Ví Dụ Thuốc Hướng Thần / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Sdbd.edu.vn

Thuốc Hướng Thần Là Gì Và Thuốc Hướng Thần Nguy Hiểm Thế Nào?

Đây là loại thuốc đang được không ít người sử dụng hiện nay. Tuy nhiên, thực hư về tác dụng của thuốc như thế nào không phải ai cũng nắm rõ.

Thuốc hướng thần là gì?

Thuốc hướng thần là thuốc có chứa dược chất kích thích hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng thuộc Danh Mục dược chất hướng thần do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.

Thuốc hướng thần hay còn gọi là thuốc tâm thần, có tác dụng dùng để điều trị các rối loạn tâm thần. Chúng đã làm thay đổi cuộc sống của những người mắc rối loạn tâm thần theo hướng trở nên tốt hơn.

Vì sử dụng quá nhiều nên không ít người đã mắc rối loạn tâm thần sống cả đời với sự trợ giúp của các thuốc này. Không có chúng, những người mắc rối loạn tâm thần có thể phải chịu những triệu chứng gây bất hoạt và trầm trọng.

Thuốc hướng thần nguy hiểm thế nào?

Thuốc hướng thần có nhiều loại, mỗi loại có một công dụng khác nhau. Một số người đạt được hiệu quả tốt từ thuốc và chỉ cần dùng chúng trong một thời gian ngắn.

Tuy nhiên, những người mắc các rối loạn như tâm thần phân liệt hoặc rối loạn lưỡng cực, hay những người bị trầm cảm, lo âu kéo dài có thể cần phải dùng thuốc trongk hoảng thời gian lâu hơn.

Thuốc hướng thần có tác dụng nhất định, nhưng bên cạnh đó loại thuốc này cũng tiềm ẩn không ít mối nguy hại cho người dùng.

Theo chúng tôi cao cấp Cao Tiến Đức, Chủ nhiệm bộ môn Tâm thần và Tâm lý y học, Bệnh viện Quân y 103 (Hà Nội) cho hay, tất cả chất tác động vào hệ thần kinh trung ương đều được gọi là thuốc hướng thần.

Thuốc hướng thần còn dùng để chữa các bệnh về tâm thần, tùy từng loại, không phải loại nào cũng có thể sai khiến được người khác. Theo PGS Đức, một số loại thuốc làm cho bệnh nhân hưng phấn, vui vẻ và dễ nghe lời hơn. Đó có thể là cơ chế các đối tượng lợi dụng để đi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của người khác.

Sử dụng thuốc hướng thần để điều khiển người dùng là hiện trạng đã xảy ra. Khi đó, nạn nhân đang rơi vào trạng thái không tỉnh táo, không làm chủ được hành động của mình, dễ bị người khác lợi dụng, sai khiến.

Theo chuyên gia này, khi điều trị bệnh nhân tâm thần, tùy vào từng loại thuốc, từng hoạt chất cụ thể mà các bác sĩ sử dụng thuốc theo từng mục đích trị bệnh khác nhau. Việc kê đơn thuốc phải thực hiện theo quy định quy chế kê đơn thuốc do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.

Các Tương Tác Thuốc Hướng Thần

Các tương tác dược lý xảy ra khi các thuốc được trộn vào nhau bên ngoài cơ thể trước khi sử dụng. Chẳng hạn, khi trộn các thuốc không tương hợp về hóa học trước khi truyền tĩnh mạch có thể gây kết tủa hoặc mất tác dụng. Ví dụ như sự không tương hợp giữa phenobarbital với chlorpromazine hoặc các thuốc giảm đau opioid khi được trộn trong cùng một bơm tiêm. Trong ba cơ chế trên, các tương tác dược lý thường ít gây ra các vấn đề trong thực hành lâm sàng, và ít có các tương tác có hại thuộc loại này với các thuốc hướng thần.

CÁC TƯƠNG TÁC DƯỢC LỰC HỌC:

Đây là các tương tác hay gặp nhất trong thực hành lâm sàng. Chúng xảy ra khi các thuốc cùng cạnh tranh nhau một thụ thể hoặc tạo ra các tác dụng đối vận hoặc cộng hưởng trên cùng một cơ quan hoặc hệ thống đích. Nhiều trường hợp đối vận có lợi như naloxone là một chất đối vận chuyên biệt làm đảo ngược tác dụng của morphine bằng cách cạnh tranh với morphine để chiếm giữ các thụ thể opioid mu. Ngược lại, các thuốc chống loạn thần làm giảm hiệu quả của levodopa trong bệnh Parkinson bằng cách ngăn chận các thụ thể dopamine trong thể vằn (corpus striatum).

Các tương tác cộng hưởng có thể được dùng trong điều trị, như để tăng cường tác dụng trị liệu của một thuốc chống trầm cảm trong trầm cảm kháng trị bằng lithium, nhưng chúng thường có hại. Một hậu quả thường gặp là gây độc ở hệ thần kinh trung ương (HTKTW) và tăng huyết áp hoặc hạ huyết áp. Sự ức chế HTKTW cũng có thể xảy ra khi rượu và các thuốc chống trầm cảm ba vòng được sử dụng cùng lúc. Các thuốc SSRI làm tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hoá khi dùng chung với aspirin hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác, do ức chế cộng hưởng trên sự ngưng kết tiểu cầu.

Các tương tác dược động học xảy ra khi sự hấp thu, phân phối hoặc bài tiết của một thuốc này bị ảnh hưởng bởi một thuốc khác.

Một thuốc có thể ảnh hưởng đến tốc độ hấp thu của một thuốc khác. Khi paracetamol dùng chung với metoclopramide, sự làm trống dạ dày (gastric emptying) nhanh hơn sẽ làm giảm thời gian hấp thu của thuốc. Ngược lại, các thuốc có tác dụng antimuscarinic như các thuốc chống trầm cảm ba vòng sẽ làm chậm sự làm trống dạ dày và tốc độ hấp thu của thuốc được dùng chung. Tuy nhiên, đối với hầu hết các thuốc, ngoại trừ các thuốc giảm đau, tốc độ hấp thu không quan trọng đối với hiệu quả của chúng.

vvv

Trong não, sự khác biệt về mật độ tiêu thể ở các tế bào khác nhau cũng có thể đưa đến các tương tác có hại. Tiêu thể có nhiều trong các nơ-rôn hơn trong các tế bào hình sao (astrocytes), và việc giảm thu giữ có thể làm tăng sự tiếp xúc của các thụ thể trên mặt tế bào với thuốc. Hiện cũng chưa rõ sự góp phần của cơ chế này trong tương tác của các thuốc hướng thần (Daniel, 2003).

Nhiều thuốc hướng thần có ái lực cao với một hoặc nhiều men trong các hệ thống CYP hoặc UGT có vai trò chủ yếu trong chuyển hóa của chúng. Sự cảm ứng hoặc ức chế hoạt động của các men chuyển hóa thuốc có thể thúc đẩy các tương tác có hại.

P-glycoprotein

Các men cytochrome P450 (CYP)

Một hệ thống nhằm chuẩn hóa thuật ngữ của hệ thống CYP đã được chấp nhận năm 1996 (Nelson và cs, 1996). Ba ký tự theo sau chữ viết tắt CYP (ví dụ CYP2A6) lần lượt tượng trưng cho họ (family), phân họ (subfamily) và từng men riêng biệt. Các họ của men cùng có trên 40% sự tương đồng trong trình tự các gen (trong ví dụ này họ được tượng trưng bởi số 2). Các phân họ cùng có trên 55% tương đồng trong trình tự gen của chúng (trong ví dụ này phân họ được tượng trưng bởi chữ A).

Có 11 men CYP chịu trách nhiệm trong việc chuyển hóa phần lớn các tác nhân dược lý. Các men quan trọng trong chuyển hóa các thuốc hướng thần là CYP1A2, CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 và CYP3A4, men cuối cùng này chịu trách nhiệm chuyển hóa trên 90% các thuốc hướng thần được chuyển đổi sinh học ở gan. “Những người chuyển hóa”

Sự biến thiên về di truyền giữ vai trò chủ yếu trong hoạt động của hệ CYP và tạo ra các khác biệt trong số lượng hoặc hoạt động của một men đặc biệt nào đó. Sự đa dạng về di truyền dược lý xảy ra khi biến thể của một gen CYP tạo ra một men có hoạt động hoàn toàn khác và men này hiện diện trong hơn 1% dân số (Meyer, 1991). Sự đa dạng này quan trọng trong lâm sàng vì có thể đưa đến ngộ độc hoặc mất hiệu quả của thuốc khi được cho ở liều bình thường. Các men CYP có đa dạng về di truyền dược lý gồm CYP2C9, CYP2C19 và CYP2D6 (Rogers và cs, 2002). Trong thực tiễn lâm sàng, sự đa dạng này tạo ra các kiểu hình riêng biệt, được mô tả như là những người chuyển hóa kém (poor metabolizers), những người chuyển hóa bình thường (extensive metabolizers) là kiểu hay gặp nhất và những người chuyển hóa cực nhanh (ultra-rapid metabolizers).

Những người chuyển hóa cực nhanh Có hoạt động của các men CYP cao hơn bình thướng, do sự nhân đôi các gen (Norton, 2001). Ở những người này, các thuốc là chất nền của các men này có thể có tác dụng điều trị rất kém hoặc hoàn toàn không có tác dụng điều trị. Ngược lại, sự tăng chuyển hóa có thể đưa đến ngộ độc khi một tiền dược được kê đơn do nó sẽ được chuyển đổi nhanh thành một chất chuyển hóa hoạt động có độc tính.

Sự cảm ứng và ức chế men CYP

Các men CYP có thể bị cảm ứng hoặc ức chế do các thuốc hoặc các sinh chất khác, làm thay đổi khả năng chuyển hóa của chúng đối với các thuốc thông thường là chất nền của chúng. Tuy nhiên, sự tiếp xúc với một chất cảm ứng hoặc ức chế men không phải luôn luôn đưa đến các thay đổi trong đáp ứng của các thuốc được kết hợp. Khả năng xảy ra các tương tác quan trọng trong lâm sàng với các thuốc được kết hợp thường khó tiên đoán ở bệnh nhân. Chẳng hạn, một chất ức chế men thường có tác dụng mạnh hơn nếu bệnh nhân là một người chuyển hóa cực nhanh và ít hơn nếu bệnh nhân vốn là một người chuyển hóa kém.Do có nhiều thuốc được chuyển hóa bởi một số men CYP nên khả năng tương tác sẽ tùy thuộc vào một hoặc nhiều men bị ảnh hưởng bởi chất cảm ứng hoặc ức chế cũng như sự hiện diện của một con đường chuyển hóa khác có hiệu quả ở bệnh nhân.

Cảm ứng Các men CYP1A2 và CYP3A4 có khả năng bị cảm ứng làm tăng số lượng cũng như hoạt động của men. Thuốc nào là chất nền của men đó sẽ được chuyển hóa nhanh hơn và làm cho hiệu quả của nó bị giảm đi. Giống như ở người chuyển hóa cực nhanh, một tiền dược có thể được hoạt hóa đủ nhanh để tạo ra các nồng độ gây độc của dẫn xuất có hoạt động. Sự khởi đầu và chấm dứt của cảm ứng men xảy ra từ từ, thường sau 7-10 ngày, và cả tốc độ lẫn mức độ có thể khó tiên đoán (Cupp & Tracy, 1997). Sự khởi đầu chậm là do thời gian để tác nhân gây cảm ứng tích lũy và thời gian cần thiết để để tổng hợp men mới. Sự chấm dứt chậm tùy thuộc vào sự đào thải tác nhân cảm ứng và sự suy giảm của các men đã tăng cao.

Các chất cảm ứng của hệ thống CYP không nhiều bằng các chất ức chế. Quan trọng nhất là các chất cảm ứng của men CYP3A4 và gồm có carbamazepine, phenobarbital, phenytoin, rifampicine. Một ví dụ về tương tác trong thực hành tâm thần là sự giảm hiệu quả của haloperidol khi kết hợp với carbamazepine do cảm ứng men CYP3A4.

Ức chế Sự ức chế các men CYP là cơ chế hay gặp nhất gây ra các tương tác thuốc nặng nề có thể dẫn đến tử vong (Johnson và cs, 1999). Hầu hết các chất ức chế men tác động chuyên biệt trên trên các men CYP riêng biệt, do đó một thuốc ức chế men CYP2A6 thường không có tác dụng trên CYP2C19.

Ức chế thường do cạnh tranh tại vị trí gắn kết của men. Do đó, trái ngược với cảm ứng men, sự khởi đầu và chấm dứt của ức chế tùy thuộc vào nồng độ và thời gian bán hủy của thuốc gây ức chế. Như vậy, các thuốc có thời gian bán hủy ngắn như cimetidine sẽ gây ức chế nhanh, nhưng các tác dụng chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn sau khi ngưng thuốc. Một ví dụ về loại tương tác này là sự tăng nguy cơ phản ứng da nghiêm trọng với lamotrigine khi thuốc này được kết hợp với sodium valproate, do sự ức chế men CYP3A4.

Trường hợp hiếm gặp khi sự ức chế không do cạnh tranh mà do thuốc ức chế gắn chặt không đảo ngược được vào men CYP, tạo nên một phức hợp không hoạt động.Điều này xảy ra với erythromycin. Sự kết thúc của ức chế thường chậm do các men mới phải được tổng hợp để thay thế các phức hợp không hoạt động. Uridine diphosphate glucuronosyltransferases (UGT)

UGT là một họ các men chịu trách nhiệm trong chuyển hóa liên kết ở giai đoạn II (glucuronidation), thường tiếp theo giai đoạn I chuyển hóa oxy hóa bởi các men P450. Hệ thống này hoạt động rất giống hệ thống P450 với các men có tên gọi tương tự như 1A4, 2B15…, mỗi men đều có các chất nền, chất ức chế và chất cảm ứng riêng. Mặc dù ít được chú ý hơn các men CYP, các men UGT cũng chịu trách nhiệm trong chuyển hóa nhiều thuốc chống lo âu, chống trầm cảm, điều hòa khí sắc và chống loạn thần. Sự ức chế chuyển hóa carbamazepine bởi valproic acid một phần là do tác động trên UGT. Amitriptyline và clomipramine làm giảm chuyển hóa của morphine và có thể góp phần vào sự ngộ độc opioid. Tầm quan trọng của loại tương tác này trong tâm thần dược lý vẫn chưa được hiểu hiết đầy đủ (Kiang và cs, 2005).

P-glycoprotein

P-gly là một trong những chất chuyên chở, hiện diện tại nhiều mô khắp cơ thể, như thành ruột, gan , thận và nội bì các mạch máu nhỏ trong não; giữ một vai trò quan trọng trong hấp thu, phân phối và bài tiết thuốc. P-gly trong ruột làm giảm sự hấp thu thuốc bằng cách tích cực vận chuyển thuốc trở lại lòng ruột. P-gly trong gan và thận thúc đẩy sự bài tiết thuốc từ máu lần lượt vào mật và nước tiểu. Ngoài ra, P-gl còn hiện diện tại hàng rào máu-não và làm giảm lượng thuốc vào HTKTW.

Giống như các men CYP, P-gly cũng có thể được cảm ứng hoặc bị ức chế bởi các thuốc khác và gây ra các tương tác thuốc. Điều này được minh họa tốt nhất bởi loperamide, một dẫn xuất opioid bình thường không gây các tác dụng trung ương do bị ngăn chận ở hàng rào máu-não. Tuy nhiên, nếu kết hợp với quinidine, một chất ức chế P-gly, nó sẽ gây tác dụng phụ ở HTKTW. Ở động vật thực nghiệm, nồng độ ở HTKTW của một số thuốc có thể tăng từ 10 đến 100 lần khi P-gly bị ức chế (Lin & Yamazaki, 2003). Vai trò của P-gly làm trung gian trong tương tác với các thuốc hướng thần chỉ mới bắt đầu được làm sáng tỏ (Carson và cs, 2002).

Các hậu quả lâm sàng nghiêm trọng của tương tác thuốc

Sự an thần trầm trọng (profound oversedation)

Sự an thần trầm trọng do tác dụng cộng dồn của các thuốc có tính chất an thần là một vấn đề đặc biệt ở người cao tuổi và ốm yếu, có thể gây té ngã và chấn thương như gãy cổ xương đùi. Những bệnh nhân buồn ngủ quá mức cũng có nguy cơ cao về thuyên tắc tĩnh mạch và nếu nằm liệt giường sẽ dễ bị viêm phổi. Ở những người lái xe, an thần gia tăng do tương tác thuốc sẽ dễ đưa đến tai nạn giao thông.

Hội chứng serotonin và sự ngộ độc HTKTW

Ngộ độc HTKTW do thuốc gây ra có các biểu hiện như kích động và bất an; run, gồng cứng và giật cơ; sốt cao với vã mồ hôi và mặt đỏ bừng; sinh hiệu dao động; và sảng. Có thể tiến triển sang trạng thái sững sờ, hôn mê và tử vong.

Các phản ứng bao gồm hội chứng serotonin, trong đó ngộ độc được cho là do sự tăng tác dụng của các amine sinh học, đặc biệt là serotonin (5-hydroxytryptamine, 5-HT). Ngộ độc cũng có thể do kết hợp thuốc làm tăng sự dẫn truyền thần kinh của các monoamine. Ví dụ ngộ độc do kết hợp các thuốc MAOI với SSRI, các thuốc chống trầm cảm ba vòng, tryptophan, cỏ St John … Hội chứng này cũng có thể xảy ra khi một thuốc MAOI được dùng chung với clozapine, các thuốc kháng khuẩn oxazolidinone, thuốc gây chán ăn sibutramine, các thuốc chống migraine như rizatriptan, sumatriptan và zolmitriptan, tetrabenazine, entacapone và selegiline, các thuốc giảm đau dextromethorphan và pethidine.

Các cơn co giật

Các cơn co giật có thể do tác dụng cộng dồn của hai hay nhiều thuốc làm giảm ngưỡng động kinh, như khi fluvoxamine hoặc maprotiline được cho ở bệnh nhân đang sử dụng clozapine. Chúng cũng có thể do sự ức chế chuyển hóa của một thuốc có tính chất gây động kinh. Chẳng hạn, khi erythromycin được cho ở một bệnh nhân đang dùng clozapine, kháng sinh này sẽ ức chế CYP3A4, do đó làm giảm chuyển hóa và làm tăng nồng độ trong huyết tương của thuốc chống loạn thần. Điều này làm tăng nguy cơ của các cơn co giật. Ngoài ra, các cơn co giật cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân động kinh do giảm nồng độ của thuốc kháng động kinh bởi hiện tượng cảm ứng men. Chẳng hạn, cỏ St John có thể làm tăng chuyển hóa và giảm nồng độ của carbamazepine và phenytoin, đưa đến sự mất kiểm soát các cơn động kinh.

TÁC DỤNG TRÊN HỆ TIM MẠCH: Hạ huyết áp

Mặc dù thường được coi là một tác dụng phụ không quan trọng của các thuốc hướng thần, hạ huyết áp có thể nguy hiểm ở người cao tuổi. Cũng giống như sự an thần quá mức, hạ huyết áp có thể gây té ngã và chấn thương. Hiếm hơn, nó có thể đưa đến nhồi máu não và đột quỵ, một trạng thái lú lẫn thực tổn hoặc thiếu máu cơ tim (có thể thúc đẩy một nhồi máu cơ tim).

Hạ huyết áp là một tác dụng kháng adrenergic đã được biết rõ của nhiều thuốc. Nó thường xảy ra khi kết hợp các thuốc có tác dụng làm hạ huyết áp như khi dùng chung MAOI với các thuốc chữa tăng huyết áp, pethidine, nefopam (thuốc giảm đau không opioid), selegiline (chất ức chế MAO-B) … Trong trường hợp nefopam, hạ huyết áp có thể nặng hơn do sự ức chế chuyển hóa làm tăng nồng độ của nó trong huyết tương.

Tăng huyết áp

Tăng huyết áp là một tác dụng phụ nghiêm trọng của thuốc hướng thần. Được biết đến nhiều nhất với MAOI, đặc biệt là “phản ứng phó mát” (cheese reaction). Sự ức chế men monoamine oxidase trong đường ruột và gan làm tăng nồng độ trong huyết tương của các amines (đặc biệt là tyramine) có nguồn gốc từ một số thức ăn. Các MAOI cũng ức chế men monoamine oxidase của ty thể trước tiếp hợp (là cơ chế tác dụng của chúng trong điều trị), kết quả là làm tăng nồng độ của noradrenaline trong các túi tiết (vesicle) trước xy-náp và trong khe xy-náp. Do các tác dụng này, MAOI khi được kết hợp với các thuốc sau đây sẽ gây ra các cơn tăng huyết áp: các thuốc chống trầm cảm ba vòng, oxypertine, buspirone, bupropion, các thuốc tác động trên hệ dopaminergic như entacapone, levodopa và selegiline.

Phản ứng này cũng được ghi nhận khi kết hợp các SSRI với selegiline. Hậu quả nghiêm trọng nhất của các cơn tăng huyết áp là xuất huyết trong não, xuất huyết dưới màng nhện, hôn mê và tử vong.

Loạn nhịp thất

Trong các tác dụng khác nhau trên tim của thuốc hướng thần, loạn nhịp là quan trọng nhất. Sự kết hợp các thuốc làm dãn dài khoảng QT trên điện tim có thể gây nguy hiểm. Nguy cơ tương tự cũng xảy ra khi một thuốc làm dãn dài khoảng QT được kết hợp với một thuốc ức chế sự chuyển hóa của nó. Trường hợp nặng có thễ dẫn đến loạn nhịp thất như xoắn đỉnh gây ngất và đột tử ở người bệnh. Các thuốc chống trầm cảm ba vòng và một số thuốc chống loạn thần như thioridazine, mesoridazine, droperidol, pimozide, ziprasidone, sertindole… là những thuốc có nguy cơ cao nhất về loạn nhịp thất do đó cần thận trọng khi sử dụng, đặc biệt khi kết hợp với các thuốc khác.

Các tác dụng nghiêm trọng khác

Tương tác có thể làm tăng nguy cơ về các tác dụng phụ như giảm bạch cầu hạt với clozapine khi nồng độ trong huyết tương của nó tăng lên do kết hợp với các thuốc ức chế các men CYP như ritonavir, cimetidine hoặc các thuốc chống trầm cảm. Ngộ độc lithium khi nồng độ trong huyết tương của nó tăng cao do giảm bài tiết khi kết hợp lithium với các thuốc lợi tiểu miễn trừ potassium (potassium-sparing diuretics) như amiloride hoặc spironolactone, các thuốc lợi tiểu thiazide, các thuốc ức chế men chuyển angiotensin và các thuốc chống viêm không steroid.

Sự giảm tác dụng điều trị gây bởi các tương tác thuốc cũng có thể xảy ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau của điều trị thuốc. Cỏ St John có thể làm giảm nồng độ huyết tương và tác dụng của nhiều thuốc kháng khuẩn, kháng vi-rút, kháng đông máu, ức chế miễn dịch và theophylline.

1. Chadwick, B., Waller D.G. & Edwards J.G.(2005): Potentially hazardous drug interactions with psychotropics. Advances in Psychiatric Treatment, vol.11,440-449 2. Glassman A.H.(2001): Antipsychotic Drugs: Prolonged QTc Interval, Torsade de Pointes, and Sudden Death. Am J Psychiatry; 158: 1774-1782 3. Sandson, N.B. (2003) Drug Interactions Casebook. 1st Edition, American Psychiatric Publishing, Inc. 4. Vieweg, V.R. & Wood M.A.(2004): Tricyclic Antidepressants, QT Interval Prolongation and Torsade de Pointes. Psychosomatics; 45:371-377 5. Wilkinson G.R.(2005): Drug Metabolism and Variability among Patients in Drug Response. N Engl J Med; 352:2211-21

BS Nguyễn Văn Nuôi, BS. CKII. P. Chủ nhiệm Bộ môn Tâm thần ĐHYDTPHCM

Khám Thuốc Hướng Thần Không Rõ Đặc Điểm Ở Đâu

kiến thức về bệnh

HƯỚNG DẪN TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT

1. Định nghĩa & phân loại:

1.1. Định nghĩa

Tiểu không kiểm soát (gọi tắt là són tiểu) là tình trạng thoát nước tiểu không tự chủ qua ngả niệu đạo.

1.2. Phân loại

Cần phải phân biệt rõ các loại tiểu không kiểm soát, vì cơ chế và phương pháp điều trị khác nhau.

* Són tiểu khi gắng sức (stress incontinence): Là sự thoát nước tiểu không tự chủ khi gắng sức (ho, hắt hơi, khiêng nặng, rặn) mà không có sự co bóp bàng quang.

– Són tiểu khi gắng sức độ 1: suy yếu sàn chậu để nâng đỡ cổ bàng quang

– Són tiểu khi gắng sức độ 2: suy yếu sàn chậu để nâng đỡ cổ bàng quang và niệu đạo

– Són tiểu khi gắng sức độ 3: suy cơ thắt nội tại của niệu đạo

* Són tiểu gấp (urge incontinence): Là sự thoát nước tiểu không tự chủ kết hợp với tình trạng tiểu gấp.

* Són tiểu do tràn đầy (overflow incontinence): Là sự thoát nước tiểu không tự chủ do ứ đọng nước tiểu mạn tính

* Són tiểu thường trực (permanent incontinence):Thoát nước tiểu thường xuyên cả ngày lẫn đêm mà không có sự đi tiểu (khác với són tiểu tràn đầy là không bị ứ đọng nước tiểu trong bàng quang).

* Són tiểu chức năng (ýunctional incontinence): chức năng của cơ quan tiết niệu bình thường, nhưng về vấn đề tâm thần bệnh nhân không quan tâm đến quy tắc xã hội về địa điểm và thời gian đi tiểu.

* Són tiểu hỗn hợp (mixed incontinence): thường gặp trên lâm sàng. Vi dụ: són tiểu khi gắng sức kết hợp với són tiểu gấp.

2. Đánh giá lâm sàng & cận lâm sàng:

2.1. Hỏi bệnh sử:

* Nhằm định hướng xác định loại tiểu không kiểm soát

* Nhằm xác định nguồn gốc, thời gian và mức độ trầm trọng của tiểu không kiểm soát.

* Hỏi tiền sử bệnh cũng giúp đánh giá cơ chế sinh bệnh, ví dụ phụ nữ mang thai và sinh nở nhiều lần, nam giới đã phẫu thuật trên tiền liệt tuyến, tiền căn chấn thương cột sống

2.2. Khám lâm sàng:

* Ở phụ nữ bao gồm đặt mỏ vịt, khám âm đạo và trực tràng, khám vùng chậu.

– Khám xem có tăng động cổ bàng quang (gặp trong són tiểu khi gắng sức độ 1) hay tăng động niệu đạo (gặp trong són tiểu khi gắng sức độ 2) ?

– Khám xem có sa bàng quang, sa tử cung hay trực tràng kèm theo hay không ? Nếu có thì đánh giá mức độ sa tạng chậu theo phân độ của ICS (2002):

Độ 1: sa tạng chậu nhẹ, cho tới khoảng giữa âm đạo

Độ 2: sa tạng chậu vừa, mấp mé trên dưới 1cm tiền đình âm hộ.

Độ 3: sa tạng chậu nặng, trên 1cm ra ngoài tiền đình âm hộ Độ 4: sa tạng chậu rất nặng, tạng sa ra hẳn ngoài tiền đình âm hộ

– Ở những phụ nữ bị són tiểu khi gắng sức, nên làm nghiệm pháp Marshall-Bonney: nếu

dương tính thì dự đoán phẫu thuật nâng đỡ âm đạo có nhiều khả năng thành công.

* Ở nam giới nên khám trực tràng và tuyến tiền liệt.

2.3. Xét nghiệm tã lót (Pad test)

Đánh giá lượng tiểu thất thoát không tự chủ trong 24 giờ, bằng cách cân trọng lượng của số tã ướt đã dùng trong 24 giờ trừ đi trọng lượng của cùng số tã khô.

2.4. Đo lượng tiểu tồn lưu

Bằng cách đặt thông tiểu hay siêu âm bụng.

2.5. Xét nghiệm Q-tip (Q-tip test)

2.6. Khảo sát niệu động học:

* Áp lực đồ bàng quang: giúp đánh giá chức năng của cơ chóp bàng quang trong giai đoạn chứa đựng (bình thường, kém co bóp, tăng co bóp hay bất ổn định)

* Áp lực bụng lúc són tiểu: giúp dự đoán mức độ suy yếu sàn chậu

* Niệu dòng đồ: giúp dự đoán mức độ bế tắc đường tiểu dưới.

* Điện cơ đồ tầng sinh môn: giúp đánh giá chức năng của cơ thắt vân niệu đạo và sự đồng vận với hoạt động của cơ chóp bàng quang (vì thế thường đo chung với áp lực đồ bàng quang.

* Áp lực – niệu dòng: khảo sát chức năng của cơ chóp bàng quang trong giai đoạn tống xuất và hiệu quả của sự tống xuất nước tiểu.

* Quay phim-niệu động học: hữu ích khi khó xác định sự mở cổ bang quang có phải là hậu quả của sự co bóp cơ chop bàng quang không ? Kỹ thuật này cho phép chẩn đoán chính xác tình trạng bất ổn định cơ chop, bất đồng vận cơ chóp-cơ thắt, rối loạn chức năng trong niệu đạo.

2.7. Chụp bàng quang lúc rặn tiểu:

Bơm thuốc cản quang đầy vào bàng quang và quan sát trên màn huỳnh quang lúc rặn tiểu ở tư thế đứng. Lúc chưa rặn tiểu, bình thường thuốc cản quang không xuống quá cổ bàng quang, nếu có xuống là có rối loạn chức năng nội tại của niệu đạo (intrinsic urethral dysfunction). Với bàng quang và niệu đạo tăng động, khi rặn tiểu sẽ thấy đáy bàng quang và niệu đạo di chuyển xuống dưới.

2.8. Nội soi bàng quang:

Có thể hữu ích cho cả hái phái nhằm phát hiện sỏi, bướu hay túi ngách bàng quang; hẹp cổ bàng quang hay niệu đạo.

3.Điều trị:

3.1. Nội khoa bảo tồn:

* Thay đổi lối sống: Quan trọng đối với những trường hợp són tiểu gấp và cả cho són tiểu chức năng. Tập uống nước chừng mực. Tập nhịn tiểu và đi tiểu theo giờ. Hạn chế các thức ăn và thức uống gây kích thích hoặc mất ngủ.

* Tập vật lý trị liệu:

Đối với són tiểu khi gắng sức, mục tiêu là làm tăng sức cơ đáy chậu. Có thể tập bằng phương pháp Kegel hay tập bằng máy với kích thích điện gây co bóp cơ đáy chậu.

Đối với són tiểu gấp, mục tiêu là tập bàng quang giảm bớt sự co bóp sớm, thường với máy đo niệu động học theo nguyên tắc ức chế ngược sinh học (biofeedback).

* Dùng thuốc:

Đối với những trường hợp bất ổn định cơ chóp bàng quang: thuốc chủ trị là nhóm thuốc antimuscarinics (oxybutynin, tolterodin, solifenacin, darifenacin …). Flavoxate cũng có tác động hạn chế co bóp bàng quang nhẹ.

Đối với những trường hợp bất toàn cơ thắt trong niệu đạo, các thuốc có thể dùng là pseudoephedrine hydrochloride (sympathomimetic), Phenylpropanolamine hydrochloride (a-adrenergic agonist), estrogen dạng uống hay dạng bôi âm đạo (làm gia tăng chất lượng niêm mạc niệu đạo, tăng khả năng áp niêm mạc niệu đạo).

3.2. Ngoại khoa:

* Phẫu thuật Kelly (khâu thành trước âm đạo): Rạch dọc thành trước âm đạo, rồi bộc lộ cổ bàng quang – niệu đạo. Cân mu-cổ tử cung được khâu lại ở đường giữa nhằm tạo sự nâng đỡ cổ bàng quang. Tỉ lệ thành công của phẫu thuật này thấp ~ 65% và tỉ lệ tái phát cao. Nên hiện nay chỉ được dùng để điều trị són tiều khi gắng sức thể nhẹ, đặc biệt là khi có kết hợp với sa bàng quang mức độ nhẹ.

* Phương pháp MarshaU-Marchetti-Krantz (MMK): Mổ ngỏ ngả bụng, khâu đính thành âm đạo ở 2 bên cổ bàng quang và niệu đạo vào màng xương sau xương mu, nhằm nâng cao thành âm đạo để sửa chữa sa bàng quang và sa niệu đạo. Tỉ lệ hết són tiểu cao (~ 85%), nhưng nhược điểm lớn nhất là tỉ lệ bí tiểu cao và biến chứng viêm xương mu, nên hiện nay rất ít được sử dụng.

* Phương pháp Burch: là cải biện của phẫu thuật MMK: Mổ ngỏ ngả bụng hay phẫu thuật nội soi, khâu đính thành âm đạo ở hai bên cổ bàng quang và niệu đạo vào dây chằng Cooper. Tỉ lệ thành công cao (~ 80%) và hạn chế được các biến chứng của phẫu thuật MMK,nên được xem là tiêu chuẩn vàng để điều trị són tiểu khi gắng sức ở thập niên 1980s – 1990s.

* Các loại phẫu thuật khâu treo âm đạo với xuyên thích kim: Gồm các phẫu thuật Stamey và phẫu thuật Raz, Thực hiện chủ yếu ngả âm đạo với đường rạch nhỏ ở hạ vị trên xương mu để xuyên thích kim và đính các mũi chỉ từ thành âm đạo hai bên cổ bàng quang lên cố định vào cân cơ thẳng bụng, mục tiêu là nâng đỡ cổ bàng quang.Tỉ lệ thành công cao trong giai đoạn sớm ~ 90% và là phẫu thuật ít xâm hại nên lúc đầu được ưa chuộng trong thập niên 1990s, nhưng về sau thì tỉ lệ tái phát cao nên hiện nay kém phổ biến.

* Các loại phẫu thuật dây treo: Có thể dùng vật liệu tự thân (vạt cân cơ thẳng bụng, vạt thành âm đạo) hay mảnh ghép nhân tạo (dải Marlex, dải Prolene).

– Các phương pháp TVT (Tension-free Vaginal Tape) và TOT (Trans Obturator Tape), dùng dải prolene để nâng đỡ dưới niệu đạo. Hai phương pháp này đang là trào lưu hiện nay vì phương pháp thực hiện đơn giản, là phẫu thuật ít xâm hại vì sẹo nhỏ thẩm mỷ và thực hiện ngả âm đạo, có tỉ lệ thành công cao ~ 75 – 95% duy trì lâu dài và tỉ lệ biến chứng ít. Các biến chứng đáng lưu ý là biến chứng sớm bí tiểu sau mổ phải thông tiểu sạch cách quãng một thời gian và biến chứng muộng loét mòn làm hở mảnh ghép khiến phải mổ lại khâu che hoặc cắt bỏ mảnh ghép..

– Phương pháp treo cổ bàng quang bằng cân cơ thẳng bụng phải mổ ngỏ ngả bụng và ngả âm đạo và sẹo mổ dài nên ít được ưa chuộng hơn, nhưng vẫn có chỉ định trong trường hợp đã thất bại sau phẫu thuật khác để điều trị són tiểu hoặc bị phản ứng với mảnh ghép.

* Tiêm dưới niệu đạo hay cổ bàng quang: Chỉ định cho những trưởng hợp bất toàn cơ thắt trong niệu đạo. Chất liệu tiêm có thể là collagen, hat PTFE, mỡ tự thân. Tiêm qua ngả nội soi ở nam giới hay dưới quan sát nội soi ở nữ giới. Tuy tỉ lệ thành công không cao ~ 25 – 50% và có thể phải tiêm lại sau 3 – 12 tháng do chất liệu tiêm bị hấp thu, nhưng do kỹ thuật đơn giản và nhẹ nhàng nên cũng có nhiều phẫu thuật viên ưa chuộng.

* Phong bế cơ bàng quang bằng Botulinum toxin: Chỉ định cho những trường hợp són tiểu gấp do bàng quang thần kinh co thắt hoặc bàng quang tăng hoạt nặng mà kháng trị với anti-muscarinics. Thường tiêm vào cơ bàng quang qua ngả nội soi. Có thể phải tiêm lại sau 6 – 9 tháng do thuốc bị hấp thu. Hiệu quả điều trị ~ 60 – 70%.

* Cơ thắt nhân tạo: Thường gặp ở những trường hợp bị tổn thương nghiêm trọng cơ thắt vân niệu đạo gây ra són tiểu thường trực như sau phẫu thuật cắt tiền liệt tuyến tận gốc do ung thư hay cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt quá sâu khỏi giới hạn ụ núi.Hạn chế của thiết bị là rất đắt tiền, khoảng 1/3 số bệnh nhân đả được đặt cơ thắt nhân tạo sẽ cần phải xem lại thiết bị ở một thời điềm nào đó. Tuy nhiên tỉ lệ thành công chung rất cao ~ 95%.

* Phẫu thuật mở rộng bàng quang bằng ruột: là giải pháp được chọn trong những trường hợp tiểu không kiểm soát nặng do bàng quang thần kinh co thắt, bàng quang tăng hoạt hoặc bàng quang nhỏ do lao mà biện pháp điều trị nội khoa không đem lại hiệu quả. Phương pháp được chấp nhận hiện nay là mở rộng bàng quang bằng ruột với xẻ ống ruột. Kỹ thuật này giúp cải thiện dung tích bàng quang và làm giảm áp lực bàng quang, qua đó làm giảm són tiểu của hầu hết các bệnh nhân.Tuy nhiên, do bàng quang tân tạo bằng ruột kém co bóp sinh ra tống xuất kém hiệu quả, nên nhiều bệnh nhân phải bổ sung phương pháp thông tiểu sạch cách quãng (sẽ trình bày ở phần sau).

* Phẫu thuật chuyển lưu nước tiểu trên bàng quang: được áp dụng khi những phương pháp điều trị són tiểu khác đã thất bại, mà đường tiểu dưới (bàng quang, niệu đạo) cũng bị tổn thương nặng khiến không thể áp dụng phẫu thuật mở rộng bàng quang bằng ruột. Có hai phương pháp chính:

Chuyển lưu qua ống hồi tràng (phẫu thuật Bricker): nước tiểu từ hai niệu quản sẽ qua đoạn hồi tràng này và thoát ra ngoài miệng hồi tràng mở ra da và. Bệnh nhân cần đeo một túi hứng nước tiểu từ miệng chuyển lưu này.

Chuyển lưu nước tiểu qua túi chứa với miệng chuyển lưu có kiểm soát (urinary pouch with continent stoma): Bệnh nhân sẽ tự đặt thông cách quãng qua miệng van để thoát lưu nước tiểu định kỳ trong ngày.

3.3.Sử dụng ống thông tiểu:

Nhiều bệnh nhân do tàn tật, do tuổi tác quá cao hay thể trạng quá yếu nên không thể áp dụng các phẫu thuật nêu trên, mà việc dung thuốc cũng không hiệu quả. Khi đó cần xem xét sử dụng các ống thông để giải quyết tình trạng són tiểu. Tuy nhiên ống thông dung thể dẫn lưu nước tiểu cũng có những vấn đề của nó.

* Thông tiểu sạch cách quãng (TTSCQ).Được phát hiện và giới thiệu bới Lapides năm 1972, hiện nay phương pháp này được phổ biến khắp thế giới. Nếu như kỹ thuật thông tiểu ở bệnh viện vẫn tuân theo nguyên tắc vô trùng thì những bệnh nhân phải sử dụng ống thông dài ngày ở nhà nên được tập phương pháp này. TTSCQ làm giảm đáng kể tỉ lệ nhiễm khuẩn niệu và những biến chứng lên đường tiết niệu so với lưu ống thông thường xuyên, và bệnh nhân không phải luôn đeo ống thông trên người rất vướng víu. Chống chỉ định của TTSCQ là viêm niệu đạo cấp, tổn thương giải phẫu của niệu đạo, dung tích bàng quang quá nhỏ và áp lực bàng quang quá cao dễ gây trào ngược bàng quang – niệu quản. Những người tàn tật ở tay hoặc quá già yếu thì vẫn có thể nhờ người thân áp dụng phương pháp này.

3.4.Dụng cụ hứng nước tiểu:

Sử dụng khi khi chờ đợi áp dụng, hoặc không thể áp dụng, hoặc đã áp dụng các biện pháp nói trên mà không thành công và phải chấp nhận tình trạng són tiểu. Có nhiều loại dụng cụ hứng nước tiểu khác nhau, nhưng ở nước ta không có nhiều trên thị trường. Một số loại thường gặp bao gồm:

* Ống thông bao dương vật (Condom catheter)’. rất hiệu quả để giải quyết sự ướt át do són tiểu ờ nam.

* Kẹp Cunningham: dùng để kẹp dương vật làm ép niệu đạo làm tránh són tiểu. Có thể gặp biến chứng hoai tử và loét niệu đạo, nên cần lưu ý mở kẹp định kỳ mỗi 4 giờ.

* Vòng nâng âm đạo: hình vành khăn, đặt vào âm đạo để đè ép niệu đạo bên trên làm tránh són tiểu.

* Băng gạc, tã lót: được chế tạo với chất liệu hút ẩm. Bệnh nhân mặc vào hay đeo vào để hạn chế sự ẩm ướt hôi hám do són tiểu. Tùy theo mức độ són tiểu mà thay một hay nhiều tã trong ngày để tránh bị hâm ngứa và nhiễm trùng lở loét da do nước tiểu.

Thuốc An Thần: Hướng Dẫn Sử Dụng, Tác Dụng, Liều Dùng &Amp; Giá Bán

Thuốc An thần là gì?

Thuốc An thần là Thuốc nhóm có thành phần Mỗi viên chứa 300mg cao khô hỗn hợp gồm: Táo nhân 0,8g; Tâm sen 0,8g; Thảo quyết minh 0,3g; Đăng tâm thảo 0,1g. Thuốc sản xuất bởi Công ty cổ phần Dược phẩm Yên Bái. lưu hành ở Việt Nam và được đăng ký với SĐK VD-16618-12.

– Phân loại: Thuốc

– Số đăng ký: VD-16618-12

– Doanh nghiệp sản xuất: Công ty cổ phần Dược phẩm Yên Bái.

– Doanh nghiệp đăng ký: CT cổ phần Dược phẩm Yên Bái

Thành phần

Mỗi viên chứa 300mg cao khô hỗn hợp gồm: Táo nhân 0,8g; Tâm sen 0,8g; Thảo quyết minh 0,3g; Đăng tâm thảo 0,1g

Thuốc An thần có chứa thành phần chính là Mỗi viên chứa 300mg cao khô hỗn hợp gồm: Táo nhân 0,8g; Tâm sen 0,8g; Thảo quyết minh 0,3g; Đăng tâm thảo 0,1g các hoạt chất khác và tá dược vừa đủ hàm lượng thuốc nhà cung sản xuất cung cấp.

Dạng thuốc và hàm lượng

– Dạng bào chế: Viên

– Đóng gói: Hộp 2 vỉ, 5 vỉ x 10 viên nang

– Hàm lượng:

Cần xem kỹ dạng thuốc và hàm lượng ghi trên bao bì sản phẩm hoặc trong tờ hướng dẫn sử dụng để biết thông tin chính xác dạng thuốc và hàm lượng trong sản phẩm.

Tác dụng

Thuốc An thần có tác dụng gì?

Xem thông tin tác dụng của Thuốc An thần được quy định ở mục tác dụng, công dụng trong tờ hướng dẫn sử dụng Thuốc.

Tác dụng, công dụng Thuốc An thần trong trường hợp khác

Mỗi loại dược phẩm sản xuất đều có tác dụng chính để điều trị một số bệnh lý hay tình trạng cụ thể. Chính gì vậy chỉ sử dụng Thuốc An thần để điều trị các bênh lý hay tình trạng được quy định trong hướng dẫn sử dụng. Mặc dù Thuốc An thần có thể có một số tác dụng khác không được liệt kê trên nhãn đã được phê duyệt bạn chỉ sử dụng Thuốc này để điều trị một số bệnh lý khác khi có chỉ định của bác sĩ.

Chỉ định

Đối tượng sử dụng Thuốc An thần (dùng trong trường hợp nào)

Dùng Thuốc An thần trong trường hợp nào? Đọc kỹ thông tin chỉ định Thuốc Thuốc An thần trong tờ hướng dẫn sử dụng

Chống chỉ định

Đối tượng không được dùng Thuốc An thần

Không được dùng Thuốc An thần trong trường hợp nào? Đọc kỹ thông tin chống chỉ định Thuốc Thuốc An thần trong tờ hướng dẫn sử dụng

Liều lượng và cách dùng

Cách dùng Thuốc An thần

Mỗi loại thuốc, dược phẩm sản xuất theo dạng khác nhau và có cách dùng khác nhau theo đường dùng. Các đường dùng thuốc thông thường phân theo dạng thuốc là: thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc dùng ngoài và thuốc đặt. Đọc kỹ hướng dẫn cách dùng Thuốc An thần ghi trên từ hướng dẫn sử dụng thuốc, không tự ý sử dụng thuốc theo đường dùng khác không ghi trên tờ hướng dẫn sử dụng Thuốc An thần.

Liều lượng dùng Thuốc An thần

Nên nhớ rằng có rất nhiều yếu tố để quy định về liều lượng dùng thuốc. Thông thường sẽ phụ thuộc vào tình trạng, dạng thuốc và đối tượng sử dụng. Hãy luôn tuân thủ liều dùng được quy định trên tờ hướng dẫn sử dụng và theo chỉ dẫn của bác sĩ, dược sĩ.

Liều dùng Thuốc An thần cho người lớn

Các quy định về liều dùng thuốc thường nhằm hướng dẫn cho đối tượng người lớn theo đường uống. Liều dùng các đường khác được quy định trong tờ hướng dẫn sử dụng. Không được tự ý thay đổi liều dùng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ, dược sĩ.

Liều dùng Thuốc An thần cho cho trẻ em

Các khác biệt của trẻ em so với người lớn như dược động học, dược lực học, tác dụng phụ… đặc biệt trẻ em là đối tượng không được phép đem vào thử nghiệm lâm sàng trước khi cấp phép lưu hành thuốc mới. Chính vì vậy dùng thuốc cho đối tượng trẻ em này cần rất cẩn trọng ngay cả với những thuốc chưa được cảnh báo.

Quá liều, quên liều, khẩn cấp

Xử lý trong trường hợp khẩn cấp hoặc quá liều

Trong các trường hợp khẩn cấp hoặc dùng quá liều có biểu hiện nguy hiểm cần gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến Cơ sở Y tế địa phương gần nhất. Người thân cần cung cấp cho bác sĩ đơn thuốc đang dùng, các thuốc đang dùng bao gồm cả thuốc kê toa và thuốc không kê toa.

Nên làm gì nếu quên một liều

Trong trường hợp bạn quên một liều khi đang trong quá trình dùng thuốc hãy dùng càng sớm càng tốt(thông thường có thể uống thuốc cách 1-2 giờ so với giờ được bác sĩ yêu cầu).Tuy nhiên, nếu thời gian đã gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và dùng liều kế tiếp vào thời điểm đã quy định. Lưu ý không dùng gấp đôi liều lượng đã quy định.

Thận trọng, cảnh báo và lưu ý

Lưu ý trước khi dùng Thuốc An thần

Sử dụng thuốc theo đúng toa hướng dẫn của bác sĩ. Không sử dụng thuốc nếu dị ứng với bất cứ thành phần nào của thuốc hoặc có cảnh báo từ bác sĩ hoặc dược sĩ. Cẩn trọng sử dụng cho trẻ em, phụ nữ có thai, cho con bú hoặc vận hành máy móc.

Lưu ý dùng Thuốc An thần trong thời kỳ mang thai

Lưu ý chung trong thời kỳ mang thai: Thuốc được sử dụng trong thời kỳ thai nghén có thể gây tác dụng xấu(sảy thai, quái thai, dị tật thai nhi…) đến bất cứ giai đoạn phát triển nào của thai kỳ, đặc biệt là ba tháng đầu. Chính vì vậy tốt nhất là không nên dùng thuốc đối với phụ nữ có thai. Trong trường hợp bắt buộc phải dùng, cần tham khảo kỹ ý kiến của bác sĩ, dược sĩ trước khi quyết định.

Xem danh sách thuốc cần lưu ý trong thời kỳ mang thai

Lưu ý dùng thuốc Thuốc An thần trong thời kỳ cho con bú

Lưu ý chung trong thời kỳ cho con bú: Thuốc có thể truyền qua trẻ thông qua việc bú sữa mẹ. Tốt nhất là không nên hoặc hạn chế dùng thuốc trong thời kỳ cho con bú. Rất nhiều loại thuốc chưa xác định hết các tác động của thuốc trong thời kỳ này bà mẹ cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo ý kiến của bác sĩ, dược sĩ trước khi quyết định dùng thuốc.

Xem danh sách thuốc cần lưu ý trong thời kỳ cho con bú

Tác dụng phụ

Các tác dụng phụ của Thuốc An thần

Các tác dụng phụ khác của Thuốc An thần

Tương tác thuốc

Khi sử dụng cùng một lúc hai hoặc nhiều thuốc thường dễ xảy ra tương tác thuốc dẫn đến hiện tượng đối kháng hoặc hiệp đồng.

Tương tác Thuốc An thần với thuốc khác

Thuốc An thần có thể tương tác với những loại thuốc nào? Dành cho chuyên gia hoặc những người có kiến thức chuyên môn. Không tự ý nghiên cứu và áp dụng khi chưa có kiến thức chuyên môn

Tương tác Thuốc An thần với thực phẩm, đồ uống

Khi sử dụng thuốc với các loại thực phẩm hoặc rượu, bia, thuốc lá… do trong các loại thực phẩm, đồ uống đó có chứa các hoạt chất khác nên có thể ảnh hưởng gây hiện tượng đối kháng hoặc hiệp đồng với thuốc. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc hoặc tham khảo ý kiến của bác sĩ, dược sĩ về việc dùng Thuốc An thần cùng thức ăn, rượu và thuốc lá.

Dược lý và cơ chế tác dụng

Nội dung về dược lý và cơ chế tác dụng của Thuốc An thầnchỉ dành cho chuyên gia hoặc những người có kiến thức chuyên môn. Không tự ý nghiên cứu và áp dụng nếu không có kiến thức chuyên môn

Dược động học

Thông tin dược động học Thuốc An thần chỉ dành cho chuyên gia hoặc những người có kiến thức chuyên môn. Không tự ý nghiên cứu và áp dụng nếu không có kiến thức chuyên môn

Độ ổn định và bảo quản thuốc

Nên bảo quản Thuốc An thần như thế nào

Nồng độ, hàm lượng, hoạt chất thuốc bị ảnh hưởng nếu bảo thuốc không tốt hoặc khi quá hạn sử dụng dẫn đến nguy hại khi sử dụng. Đọc kỹ thông tin bảo quản và hạn sử dụng thuốc được ghi trên vỏ sản phẩm và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc. Thông thường các thuốc được bảo quản ở nhiệt độ phòng, tránh ẩm và ánh sáng. Khi thuốc quá hạn hoặc không thể sử dụng nên tham khảo với bác sĩ, dược sĩ hoặc đơn vị xử lý rác để có cách tiêu hủy thuốc an toàn. Không nên vứt thuốc vào toilet hoặc đường ống dẫn nước trừ khi có yêu cầu.

Lưu ý khác về bảo quản Thuốc An thần

Lưu ý không để Thuốc An thần ở tầm với của trẻ em, tránh xa thú nuôi. Trước khi dùng Thuốc An thần, cần kiểm tra lại hạn sử dụng ghi trên vỏ sản phẩm, đặc biệt với những dược phẩm dự trữ tại nhà.

Giá bán và nơi bán

Thuốc An thần giá bao nhiêu?

Giá bán Thuốc An thần sẽ khác nhau ở các cơ sở kinh doanh thuốc. Liên hệ nhà thuốc, phòng khám, bệnh viện hoặc các cơ sở có giấy phép kinh doanh thuốc để cập nhật chính xác giá Thuốc An thần.

Tham khảo giá Thuốc An thần do doanh nghiệp xuất/doanh nghiệp đăng ký công bố:

Nơi bán Thuốc An thần

Mua Thuốc An thần ở đâu? Nếu bạn có giấy phép sử dụng thuốc hiện tại có thể mua thuốc online hoặc các nhà phân phối dược mỹ phẩm để mua sỉ Thuốc An thần. Với cá nhân có thể mua online các thuốc không kê toa hoặc các thực phẩm chức năng…Để mua trực tiếp hãy đến các nhà thuốc tư nhân, nhà thuốc bệnh viện, nhà thuốc phòng khám hoặc các cơ sở được phép kinh doanh thuốc gần nhất.