Thuốc Giảm Cảm Liên Ngân / 2023 / Top 21 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Sdbd.edu.vn

Thuốc Giảm Cảm Liên Ngân: Hướng Dẫn Sử Dụng, Tác Dụng, Liều Dùng &Amp; Giá Bán / 2023

Thuốc Giảm cảm Liên Ngân là gì?

Thuốc Giảm cảm Liên Ngân là Thuốc nhóm có thành phần Kim ngân hoa, Liên kiều, Cát cánh, Tinh dầu Bạc hà, Đạm trúc diệp, Cam thảo,Kinh giới, Ngưu bàng tử. Thuốc sản xuất bởi Công ty CPDP Medisun lưu hành ở Việt Nam và được đăng ký với SĐK GC-221-14.

– Tên dược phẩm: Giảm cảm Liên Ngân

– Phân loại: Thuốc

– Số đăng ký: GC-221-14

– Doanh nghiệp sản xuất: Công ty CPDP Medisun

Thành phần

Kim ngân hoa, Liên kiều, Cát cánh, Tinh dầu Bạc hà, Đạm trúc diệp, Cam thảo,Kinh giới, Ngưu bàng tử

Thuốc Giảm cảm Liên Ngân có chứa thành phần chính là Kim ngân hoa, Liên kiều, Cát cánh, Tinh dầu Bạc hà, Đạm trúc diệp, Cam thảo,Kinh giới, Ngưu bàng tử các hoạt chất khác và tá dược vừa đủ hàm lượng thuốc nhà cung sản xuất cung cấp.

Dạng thuốc và hàm lượng

– Dạng bào chế: Viên

– Đóng gói: Hộp 10 vỉ x 10 viên

– Hàm lượng: Bột Nha đam tử 30mg; Berberin clorid 63mg, cao Tỏi 70mg (tương ứng với 350mg Tỏi), cao khô Mộc hương 100mg (tương ứng 250 mg Mộc hương); Bột Cát căn 100mg

Cần xem kỹ dạng thuốc và hàm lượng ghi trên bao bì sản phẩm hoặc trong tờ hướng dẫn sử dụng để biết thông tin chính xác dạng thuốc và hàm lượng trong sản phẩm.

Tác dụng

Thuốc Giảm cảm Liên Ngân có tác dụng gì?

Xem thông tin tác dụng của Thuốc Giảm cảm Liên Ngân được quy định ở mục tác dụng, công dụng trong tờ hướng dẫn sử dụng Thuốc.

Tác dụng, công dụng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân trong trường hợp khác

Mỗi loại dược phẩm sản xuất đều có tác dụng chính để điều trị một số bệnh lý hay tình trạng cụ thể. Chính gì vậy chỉ sử dụng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân để điều trị các bênh lý hay tình trạng được quy định trong hướng dẫn sử dụng. Mặc dù Thuốc Giảm cảm Liên Ngân có thể có một số tác dụng khác không được liệt kê trên nhãn đã được phê duyệt bạn chỉ sử dụng Thuốc này để điều trị một số bệnh lý khác khi có chỉ định của bác sĩ.

Chỉ định

Đối tượng sử dụng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân (dùng trong trường hợp nào)

Dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân trong trường hợp nào? Đọc kỹ thông tin chỉ định Thuốc Thuốc Giảm cảm Liên Ngân trong tờ hướng dẫn sử dụng

Chống chỉ định

Đối tượng không được dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân

Không được dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân trong trường hợp nào? Đọc kỹ thông tin chống chỉ định Thuốc Thuốc Giảm cảm Liên Ngân trong tờ hướng dẫn sử dụng

Liều lượng và cách dùng

Cách dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân

Mỗi loại thuốc, dược phẩm sản xuất theo dạng khác nhau và có cách dùng khác nhau theo đường dùng. Các đường dùng thuốc thông thường phân theo dạng thuốc là: thuốc uống, thuốc tiêm, thuốc dùng ngoài và thuốc đặt. Đọc kỹ hướng dẫn cách dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân ghi trên từ hướng dẫn sử dụng thuốc, không tự ý sử dụng thuốc theo đường dùng khác không ghi trên tờ hướng dẫn sử dụng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân.

Liều lượng dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân

Nên nhớ rằng có rất nhiều yếu tố để quy định về liều lượng dùng thuốc. Thông thường sẽ phụ thuộc vào tình trạng, dạng thuốc và đối tượng sử dụng. Hãy luôn tuân thủ liều dùng được quy định trên tờ hướng dẫn sử dụng và theo chỉ dẫn của bác sĩ, dược sĩ.

Liều dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân cho người lớn

Các quy định về liều dùng thuốc thường nhằm hướng dẫn cho đối tượng người lớn theo đường uống. Liều dùng các đường khác được quy định trong tờ hướng dẫn sử dụng. Không được tự ý thay đổi liều dùng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ, dược sĩ.

Liều dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân cho cho trẻ em

Các khác biệt của trẻ em so với người lớn như dược động học, dược lực học, tác dụng phụ… đặc biệt trẻ em là đối tượng không được phép đem vào thử nghiệm lâm sàng trước khi cấp phép lưu hành thuốc mới. Chính vì vậy dùng thuốc cho đối tượng trẻ em này cần rất cẩn trọng ngay cả với những thuốc chưa được cảnh báo.

Quá liều, quên liều, khẩn cấp

Xử lý trong trường hợp khẩn cấp hoặc quá liều

Trong các trường hợp khẩn cấp hoặc dùng quá liều có biểu hiện nguy hiểm cần gọi ngay cho Trung tâm cấp cứu 115 hoặc đến Cơ sở Y tế địa phương gần nhất. Người thân cần cung cấp cho bác sĩ đơn thuốc đang dùng, các thuốc đang dùng bao gồm cả thuốc kê toa và thuốc không kê toa.

Nên làm gì nếu quên một liều

Trong trường hợp bạn quên một liều khi đang trong quá trình dùng thuốc hãy dùng càng sớm càng tốt(thông thường có thể uống thuốc cách 1-2 giờ so với giờ được bác sĩ yêu cầu).Tuy nhiên, nếu thời gian đã gần với liều kế tiếp, hãy bỏ qua liều đã quên và dùng liều kế tiếp vào thời điểm đã quy định. Lưu ý không dùng gấp đôi liều lượng đã quy định.

Thận trọng, cảnh báo và lưu ý

Lưu ý trước khi dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân

Sử dụng thuốc theo đúng toa hướng dẫn của bác sĩ. Không sử dụng thuốc nếu dị ứng với bất cứ thành phần nào của thuốc hoặc có cảnh báo từ bác sĩ hoặc dược sĩ. Cẩn trọng sử dụng cho trẻ em, phụ nữ có thai, cho con bú hoặc vận hành máy móc.

Lưu ý dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân trong thời kỳ mang thai

Lưu ý chung trong thời kỳ mang thai: Thuốc được sử dụng trong thời kỳ thai nghén có thể gây tác dụng xấu(sảy thai, quái thai, dị tật thai nhi…) đến bất cứ giai đoạn phát triển nào của thai kỳ, đặc biệt là ba tháng đầu. Chính vì vậy tốt nhất là không nên dùng thuốc đối với phụ nữ có thai. Trong trường hợp bắt buộc phải dùng, cần tham khảo kỹ ý kiến của bác sĩ, dược sĩ trước khi quyết định.

Xem danh sách thuốc cần lưu ý trong thời kỳ mang thai

Lưu ý dùng thuốc Thuốc Giảm cảm Liên Ngân trong thời kỳ cho con bú

Lưu ý chung trong thời kỳ cho con bú: Thuốc có thể truyền qua trẻ thông qua việc bú sữa mẹ. Tốt nhất là không nên hoặc hạn chế dùng thuốc trong thời kỳ cho con bú. Rất nhiều loại thuốc chưa xác định hết các tác động của thuốc trong thời kỳ này bà mẹ cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo ý kiến của bác sĩ, dược sĩ trước khi quyết định dùng thuốc.

Xem danh sách thuốc cần lưu ý trong thời kỳ cho con bú

Tác dụng phụ

Các tác dụng phụ của Thuốc Giảm cảm Liên Ngân

Các tác dụng phụ khác của Thuốc Giảm cảm Liên Ngân

Tương tác thuốc

Khi sử dụng cùng một lúc hai hoặc nhiều thuốc thường dễ xảy ra tương tác thuốc dẫn đến hiện tượng đối kháng hoặc hiệp đồng.

Tương tác Thuốc Giảm cảm Liên Ngân với thuốc khác

Thuốc Giảm cảm Liên Ngân có thể tương tác với những loại thuốc nào? Dành cho chuyên gia hoặc những người có kiến thức chuyên môn. Không tự ý nghiên cứu và áp dụng khi chưa có kiến thức chuyên môn

Tương tác Thuốc Giảm cảm Liên Ngân với thực phẩm, đồ uống

Khi sử dụng thuốc với các loại thực phẩm hoặc rượu, bia, thuốc lá… do trong các loại thực phẩm, đồ uống đó có chứa các hoạt chất khác nên có thể ảnh hưởng gây hiện tượng đối kháng hoặc hiệp đồng với thuốc. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc hoặc tham khảo ý kiến của bác sĩ, dược sĩ về việc dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân cùng thức ăn, rượu và thuốc lá.

Dược lý và cơ chế tác dụng

Nội dung về dược lý và cơ chế tác dụng của Thuốc Giảm cảm Liên Ngânchỉ dành cho chuyên gia hoặc những người có kiến thức chuyên môn. Không tự ý nghiên cứu và áp dụng nếu không có kiến thức chuyên môn

Dược động học

Thông tin dược động học Thuốc Giảm cảm Liên Ngân chỉ dành cho chuyên gia hoặc những người có kiến thức chuyên môn. Không tự ý nghiên cứu và áp dụng nếu không có kiến thức chuyên môn

Độ ổn định và bảo quản thuốc

Nên bảo quản Thuốc Giảm cảm Liên Ngân như thế nào

Nồng độ, hàm lượng, hoạt chất thuốc bị ảnh hưởng nếu bảo thuốc không tốt hoặc khi quá hạn sử dụng dẫn đến nguy hại khi sử dụng. Đọc kỹ thông tin bảo quản và hạn sử dụng thuốc được ghi trên vỏ sản phẩm và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc. Thông thường các thuốc được bảo quản ở nhiệt độ phòng, tránh ẩm và ánh sáng. Khi thuốc quá hạn hoặc không thể sử dụng nên tham khảo với bác sĩ, dược sĩ hoặc đơn vị xử lý rác để có cách tiêu hủy thuốc an toàn. Không nên vứt thuốc vào toilet hoặc đường ống dẫn nước trừ khi có yêu cầu.

Lưu ý khác về bảo quản Thuốc Giảm cảm Liên Ngân

Lưu ý không để Thuốc Giảm cảm Liên Ngân ở tầm với của trẻ em, tránh xa thú nuôi. Trước khi dùng Thuốc Giảm cảm Liên Ngân, cần kiểm tra lại hạn sử dụng ghi trên vỏ sản phẩm, đặc biệt với những dược phẩm dự trữ tại nhà.

Giá bán và nơi bán

Thuốc Giảm cảm Liên Ngân giá bao nhiêu?

Giá bán Thuốc Giảm cảm Liên Ngân sẽ khác nhau ở các cơ sở kinh doanh thuốc. Liên hệ nhà thuốc, phòng khám, bệnh viện hoặc các cơ sở có giấy phép kinh doanh thuốc để cập nhật chính xác giá Thuốc Giảm cảm Liên Ngân.

Tham khảo giá Thuốc Giảm cảm Liên Ngân do doanh nghiệp xuất/doanh nghiệp đăng ký công bố:

Nơi bán Thuốc Giảm cảm Liên Ngân

Mua Thuốc Giảm cảm Liên Ngân ở đâu? Nếu bạn có giấy phép sử dụng thuốc hiện tại có thể mua thuốc online hoặc các nhà phân phối dược mỹ phẩm để mua sỉ Thuốc Giảm cảm Liên Ngân. Với cá nhân có thể mua online các thuốc không kê toa hoặc các thực phẩm chức năng…Để mua trực tiếp hãy đến các nhà thuốc tư nhân, nhà thuốc bệnh viện, nhà thuốc phòng khám hoặc các cơ sở được phép kinh doanh thuốc gần nhất.

Thuốc Giải Cảm Liên Ngân Là Gì? Tác Dụng, Liều Dùng &Amp; Giá Bán / 2023

Thuốc Giải cảm liên ngân là gì?

Thông tin thuốc

Tên thuốc: Giải cảm liên ngân

Thành phần hoạt chất: – Cát cánh – Kim ngân hoa – Cam thảo – Kinh giới – Ngưu bàng tử – Liên kiều – Đạm trúc diệp – Tinh dầu bạc hà

Nồng độ, hàm lượng: – 0,27g (tương đương 190mg bột mịn) – 0,45g (tương đương 270mg bột mịn) – 0,23g (tương đương 15mg cao khô) – 0,20 g (tương đương 11mg cao khô) – 0,30g (tương đương 11mg cao khô) – 0,45g (tương đương 22mg cao khô) – 0,30g (tương đương 15mg cao khô) – 0,002g

Số đăng ký: GC-221-14

Quy cách đóng gói:

Nhà sản xuất: Công ty CP Dược phẩm Medisun

Nhà phân phối: Công ty CP Dược phẩm Medisun

Tác dụng, công dụng

Tác dụng của thuốc Giải cảm liên ngân là gì?

Nhóm sản phẩm Chỉ định Chống chỉ định

Bệnh nhân mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc

Liều dùng

Liều dùng thuốc Giải cảm liên ngân cho người lớn như thế nào?

Đọc kỹ hướng dẫn về liều dùng, cách dùng thuốc cho người lớn trên tờ hướng dẫn sử dụng

Liều dùng thuốcGiải cảm liên ngân cho trẻ em như thế nào?

Đọc kỹ hướng dẫn về liều dùng, cách dùng thuốc theo độ tuổi trẻ em trên tờ hướng dẫn sử dụng

Cách dùng

Nên dùng thuốc Giải cảm liên ngân như thế nào?

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi quyết định dùng thuốc.

Nên làm gì trong trường hợp dùng quá liều?

Trong các trường hợp sử dụng thuốc quá liều phải cấp cứu, người nhà cần đem theo toa thuốc/lọ thuốc nạn nhân đã uống. Ngoài ra, người nhà cũng cần biết chiều cao và cân nặng của nạn nhân để thông báo cho bác sĩ.

Nên làm gì nếu quên một liều?

Tốt nhất vẫn là uống thuốc đúng thời gian bác sĩ kê đơn. Uống thuốc đúng thời gian sẽ bảo đảm tác dụng của thuốc được tốt nhất. Thông thường có thể uống thuốc cách 1-2 giờ so với giờ được bác sĩ yêu cầu, không nên uống bù khi thời gian quá xa cho lần uống tiếp theo.

Tác dụng phụ

Tác dụng phụ khi dùng thuốc Giải cảm liên ngân

Tác dụng phụ có thể không giống nhau tùy vào cơ địa mỗi người. Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi dùng thuốc.

Lưu ý, thận trọng, cảnh báo

Lưu ý trước khi dùng thuốc Giải cảm liên ngân

Tốt nhất cần thông báo đầy đủ cho bác sĩ hoặc dược sĩ về tình trạng của bản thân như tình trạng bệnh hiện tại, tiền sử bệnh, dị ứng, mang thai, cho con bú….

Cần đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng thuốc

Lưu ý dùng thuốc Giải cảm liên ngân khi đang mang thai

Trước khi dùng thuốc, hãy luôn hỏi ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ để cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ dùng thuốc khi đang mang thai

A = Không có nguy cơ;

B = Không có nguy cơ trong vài nghiên cứu

C = Có thể có nguy cơ;

D = Có bằng chứng về nguy cơ;

X = Chống chỉ định;

N = Vẫn chưa biết.

Lưu ý dùng thuốcGiải cảm liên ngân khi cho con bú

Thông thường bác sĩ vẫn khuyên các bà mẹ đang cho con bú không nên uống thuốc. Chính vì vậy người mẹ sẽ phải thật cân nhắc việc dùng thuốc khi đang cho con bú. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng những tờ giấy hướng dẫn sử dụng đi kèm với hộp thuốc. Chú ý các mục “Chống chỉ định” và “Sử dụng trong lúc có thai hoặc cho con bú”.

Lưu ý dùng thuốc Giải cảm liên ngân cho người cao tuổi

Thận trọng dùng thuốc với người cao tuổi vì độ nhạy cảm với thuốc ở đối tượng này có thể lớn hơn với người lớn bình thường.

Lưu ý chế độ ăn uống khi dùng thuốc Giải cảm liên ngân

Đọc kỹ lưu ý về chế độ ăn uống trên tờ hướng dẫn.

Cần thận trọng trong việc dùng thuốc. Cần đọc kỹ hướng dẫn có trong hộp đựng, hoặc chỉ dẫn của bác sĩ

Tương tác thuốc

Thuốc Giải cảm liên ngân có thể tương tác với những thuốc nào?

Tương tác thuốc có thể làm thay đổi khả năng hoạt động của thuốc hoặc gia tăng ảnh hưởng của các tác dụng phụ. Hãy cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết tất cả các loại thuốc theo toa và thuốc không kê toa, vitamin, khoáng chất, các sản phẩm thảo dược và các loại thuốc do các bác sĩ khác kê toa. Hãy luôn tham khảo sự tư vấn của bác sĩ.

Thuốc Giải cảm liên ngân có thể tương tác với thực phẩm, đồ uống nào?

Thức ăn, rượu bia và thuốc lá có thể tương tác với vài loại thuốc nhất định. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ về việc uống thuốc cùng thức ăn, rượu bia và thuốc lá

Bảo quản thuốc

Nên bảo quản thuốc Giải cảm liên ngân như thế nào?

Nên nhớ rằng mỗi loại thuốc có thể có các phương pháp bảo quản khác nhau. Vì vậy, nên đọc kỹ hướng dẫn bảo quản trên bao bì, hoặc hỏi dược sĩ.

Giá thuốc Giải cảm liên ngân

Giá bán thuốc Giải cảm liên ngân có thể không giống nhau ở các nhà thuốc. Muốn biết chính xác giá bán lẻ thuốc Giải cảm liên ngân cần liên hệ hoặc đến trực tiếp các nhà thuốc gần nhất.

Tham khảo giá thuốc Giải cảm liên ngân

Giá niêm yết công bố (giá bán sỉ): 550VNĐ/viên

Nơi bán thuốc Giải cảm liên ngân

Thuốc Giải cảm liên ngân bán ở đâu?

Tới các nhà thuốc tư nhân, các nhà thuốc đạt chuẩn GPP hoặc nhà thuốc bệnh viện để mua thuốc Giải cảm liên ngân

Hình ảnh thuốc Giải cảm liên ngân

Tổng hợp ảnh về thuốc Giải cảm liên ngân

Video thuốc Giải cảm liên ngân

Tổng hợp video về thuốc Giải cảm liên ngân

Đánh giá

Đánh giá của bác sĩ về thuốc Giải cảm liên ngân?

Đánh giá của bệnh nhân về sử dụng thuốc Giải cảm liên ngân?

Thông tin dược chất chính

Dược lý và cơ chế

Dược động học

chúng tôi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa

Các thông tin chỉ mang tính tham khảo. Chúng tôi hoàn toàn không chịu trách nhiệm trong trường hợp người bệnh tứ ý dùng thuốc khi chỉ dựa vào những thông tin ở đây.

Mối Liên Quan Giữa Trầm Cảm, Lo Âu Và Mất Ngủ / 2023

Nhu cầu gia tăng nhận biết về mất ngủ tùy theo tần suất của mất ngủ. Dữ liệu từ cuộc điều tra săn sóc sức khỏe ban đầu và cộng đồng về mất ngủ tại Mỹ cho biết khoảng 10% người lớn bị mất ngủ kéo dài trên 6 tháng.[1-5] Cùng với những khó chịu về cơ thể và tâm thần mà mỗi người phải chịu đựng, mất ngủ cũng ảnh hưởng xã hội nặng nề và nó cũng là vấn đề sức khỏe cộng đồng. Chi phí trực tiếp dành cho điều trị mất ngủ năm 1995 ước khoảng 13.9 tỷ đô la, chưa tính đến chi phí gián tiếp đi kèm tăng tỷ lệ mắc bệnh và giảm hoạt động hàng ngày (ví dụ: giảm năng suất công việc, vắng mặt). [6,7]

Bác sĩ chăm sóc ban đầu đóng vai trò quan trọng giải quyết mất ngủ bao gồm cả cá nhân bệnh nhân và xã hội. Như người gác cổng, họ đứng ở vị trí hoặc chẩn đoán trực tiếp và điều trị bệnh nhân mất ngủ hoặc là đưa bệnh nhân đến bác sĩ chuyên khoa. Bởi vì bản chất phức tạp của mất ngủ, việc chẩn đoán chính xác sẽ đưa ra điều trị tối ưu. Với dữ liệu cho thấy rằng chỉ 5% người lớn mất ngủ được chẩn đoán [6], do đó có nhu cầu lớn cải thiện nhận thức vấn đề này cả về bề ngang và bề sâu của vấn đề này.

Cập nhật lâm sàng về mất ngủ tập trung vào mối tương quan của mất ngủ với lo âu và trầm cảm. Số liệu cho thấy rằng tần suất mắc bệnh phối hợp mất ngủ và rối loạn khí sắc cao, mất ngủ thứ phát thường kết hợp với những rối loạn tâm thần, đặc biệt rối loạn khí sắc. [1,8] Những nghiên cứu bệnh nhân trầm cảm nặng có mất ngủ 65% bệnh nhân ngoại trú và 90% bệnh nhân nội trú. [8-10] Tương tự, những nghiên cứu về mất ngủ báo cáo rằng 46% bệnh nhân đó có mất ngủ mãn tính trong các trung tâm rối loạn giấc ngủ được chẩn đoán có rối loạn tâm thần. [8,10] Bằng chứng cũng đưa ra rằng mất ngủ mãn tính có thể có yếu tố nguy cơ rõ rệt cho tiến triển trầm cảm hay lo âu, [2] trong đó 1 nghiên cứu tìm thấy gấp 4 lần nguy cơ tương đối phát triển trầm cảm ở bệnh nhân có bệnh sử mất ngủ. [1,2] Những khác biệt nếu có về trầm cảm hay lo âu hay theo sau mất ngủ có kết quả quan trọng cho chẩn đoán và điều trị.

Mất ngủ là vấn đề nổi bật. Chỉ tính riêng tại Mỹ, khoảng 1/3 người lớn nói có một số khó khăn về giấc ngủ, và 9 – 12% trong số họ có hoạt động ban ngày bị ảnh hưởng như giảm năng lượng, mệt mỏi ban ngày, tập trung khó khăn, và tác động có hại khác. [13] Tỷ lệ mất ngủ chiếm 11,9% ở Phần Lan đến 21% ở Nhật. [14]

Mất ngủ cũng thường xả ra kết hợp với trầm cảm hay lo âu, ước khoảng 40% phối hợp bệnh tâm thần kèm theo, trước tiên rối loạn khí sắc, ở bệnh nhân mất ngủ mãn tính. [1] Mặc dù rối loạn tâm thần không thay đổi nguyên nhân mất ngủ, số liệu hiện tại cho rằng mất ngủ có trước trầm cảm. Một nghiên cứu tìm thấy mất ngủ thường có trước khởi phát 1 giai đoạn trầm cảm hay giai đoạn tái phát trầm cảm (41% và 56,2% theo thời gian) đối lập với khởi phát trầm cảm hay tái phát trầm cảm (28,9% và 21,6% theo thời gian). [1,15] Trái lại, cũng nghiên cứu đó cho biết mất ngủ theo sau 1 giai đoạn đầu tiên lo âu hay giai đoạn tái phát (43,5% và 34,3%) so sánh với mất ngủ trước giai đoạn lo âu đầu tiên hay giai đoạn tái phát (18,0% và 23,2%). [1,15] Những nghiên cứu khác cho rằng mất ngủ là một yếu tố nguy cơ rõ rệt cho phát triển rối loạn trầm cảm, nghiên cứu khác ít khi kết luận rằng mất ngủ làm gia tăng rối loạn lo âu. [2,12,16,17] CHẨN ĐOÁN MẤT NGỦ

Bệnh nhân có biểu hiện mất ngủ điển hình bao gồm phức hợp những triệu chứng như khó đi vào giấc ngủ, duy trì giấc ngủ, thức dậy sớm hoặc giấc ngủ không phục hồi. [1] Nhiệm vụ đầu tiên của bác sĩ chăm sóc ban đầu là quyết định những nguyên nhân nào gây ra mất ngủ. Theo phân loại của Sổ tay chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần – xuất bản lần thứ 4 (DSM-IV), mất ngủ nguyên phát được định nghĩa như khó khăn buồn ngủ hay duy trì giấc ngủ, hoặc giấc ngủ không phục hồi kéo dài hơn 1 tháng, đi kèm với suy giảm hoạt động ban ngày, và không do rối loạn tâm thần hay bệnh khác. [18] Phân nhóm nhỏ của mất ngủ nguyên phát bao gồm tâm sinh lý (đặc trưng bởi học tập gây ra khó ngủ và giảm hoạt động ban ngày), mất nhận biết thức ngủ (thiếu bằng chứng khách quan của xáo trộn giấc ngủ hay giảm hoạt động ban ngày), và vô căn (mất ngủ kéo dài dai dẳng kể từ lúc thơ ấu và có thể kèm theo stress hay lạm dụng chất trong thời thơ ấu). [6,9] Bảng 1 gồm danh sách rối loạn giấc ngủ nguyên phát thường gặp có thể gây mất ngủ.

1. Những bệnh thường gặp trong mất ngủ nguyên phát

Ngủ rũ: ngủ ngày quá mứcHội chứng chân không yên: cảm giác bàn chân và ngón chân “không thoải mái”Rối loạn cử động chi chu kỳ: những cử động giật mình nhẹ 2 chi dướiRối loạn nhịp thức ngủ 24h (Circadian rhythm disorders): không khả năng ngủ vào giờ bình thường. Trong hội chứng pha – ngủ tiến triển, gặp lúc đầu ở người già, bệnh nhân buồn ngủ sớm vào ban đêm và thức dậy sớm vào buổi sáng; trong hội chứng pha – ngủ trì hoãn, hầu hết nhìn thấy ở thanh thiếu niên, bệnh nhân buồn ngủ trể vào buổi tối và có khó khăn thức dậy vào ban ngày.

Theo Cochran H[6] Bảng 1: những bệnh thường gặp trong mất ngủ nguyên phát

Mất ngủ thứ phát do nguyên nhân bệnh nội khoa, bệnh thần kinh hay bệnh tâm thần, và thường đi kèm với rối loạn khí sắc.[1] Mất ngủ đi kèm trầm cảm thường hiện diện như 3 quá trình – buồn ngủ khó khăn, khó khăn trong duy trì giấc ngủ hay xáo trộn giấc ngủ liên tiếp, và thức dậy sớm vào ban ngày.[20] Trong số đó, thức dậy sớm vào buổi sáng thường đi kèm với trầm cảm nhất, trái lại khó đi vào giấc ngủ thường gặp trong lo âu và những rối loạn khác.

Cùng với khác biệt với mất ngủ nguyên phát, mất ngủ thứ phát cũng có ích để nhận biết những đặc tính đặc biệt các dạng mất ngủ. Một số dạng mất ngủ mãn tính đi kèm với ngủ ngày và suy giảm hoạt động trái lại những dạng khác thì không có. Ví dụ như sau:

· Mất ngủ thứ phát do bệnh viêm thấp khớp: gây ra gián đoạn giấc ngủ và gia tăng mệt mỏi không biểu hiện bằng ngủ ngày [22];

· Mất ngủ đi kèm với rối loạn trầm cảm chủ yếu có thể đặc trưng bởi khó đi vào giấc ngủ và/hoặc không ngủ, cũng như thức dậy sớm, do đó kết quả gây xáo trộn giấc ngủ mãn tính và mệt mỏi ban ngày. 2. Quá trình chẩn đoán

Những yếu tố nguy cơ cho mất ngủ bao gồm gia tăng theo tuổi, phụ nữ, có bệnh nội khoa và tâm thần, và làm việc theo ca.[1] Điều này hoàn toàn không rõ tại sao những yếu tố này là nguy cơ cao của mất ngủ. Tuy nhiên đối với người già, được nghĩ rằng do thay đổi quá trình ngủ, yếu tố thời gian 24h, và có nhiều bệnh nội khoa làm gia tăng nguy cơ mất ngủ.[1] Chẩn đoán và điều trị mất ngủ ở người già đựơc nói riêng. Để tham khảo, xem Drake và cộng sự.[16]

Bảng 2 gồm danh sách các dụng cụ sử dụng đánh giá ban đầu bệnh nhân có triệu chứng mất ngủ. Bảng 2. Đánh giá triệu chứng mất ngủ Bệnh sử và khám cơ thể Bao gồm những câu hỏi về mất ngủ:* tác động trên hoạt động độ nặng thời gian tuổi khởi phát những yếu tố ảnh hưởng (di truyền, thói quen ngủ có ánh đèn, nhịp thức ngủ 24 giờ không chuẩn, nhạy cảm với tiếng ồn) yếu tố thúc đẩy (bệnh, stress, thuốc men) đặc tính đặc biệt (ban đêm, ngắt quãng, tình huống đặc biệt, v.v…) kiểu sống, hoạt động hàng ngày dùng cà phê, rượu, và thuốc (kê đơn, thuốc không cần kê đơn, bất hợp pháp)

Nhật ký giấc ngủ Do bệnh nhân nói trong vòng 7 ngày Bảng câu hỏi về giấc ngủ Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (Pittsburgh Sleep Quality Index[23] ) Thang giấc ngủ Epworth (Epworth Sleepiness Scale[6] ) Thang giấc ngủ Stanford (Stanford Sleepiness Scale[6] )

Tầm soát độc chất trong nước tiểu (tùy ý) Loại trừ sử dụng chất kích thích

Tầm soát tâm lý (khi nghi ngờ có bệnh tâm thần) Thang trầm cảm Beck (Beck Depression Inventory) Thang lo âu Beck (Beck Anxiety Inventory) Tham khảo đánh giá tâm lý hay tâm thần nếu cần

* Thông tin từ người bạn tình nếu thích hợp, có thể cung cấp thông tin về thói quen ngủ. Theo Schenck CH, et al[13]

Actigraphy là test dùng để xác định không nhận thức trạng thái ngủ (sleep – state misperception), ngủ gián đoạn và rối loạn chu kỳ ngủ. Nó cũng có hiệu quả như biện pháp hỗ trợ đánh giá và lượng giá quá trình thức – ngủ, nhưng không dùng thường quy cho điều trị mất ngủ.[19]

Sau khi đánh giá bệnh nhân, phân loại triệu chứng giúp xác định mất ngủ nguyên phát hay thứ phát. Có 4 phân loại có ích trong xác định căn nguyên mất ngủ [13]:

Viện Hàn lâm Hoa kỳ về giấc ngủ xác định phân loại dấu hiệu và triệu chứng có thể đi kèm rối loạn giấc ngủ. Bao gồm:

(1) Triệu chứng gây ra do stress; (2) Triệu chứng hay bệnh sử trầm cảm, lo âu, rối loạn ám ảnh cưỡng chế hay những triệu chứng tâm lý chính khác; (3) Rối loạn sơ dồ thức – ngủ (được định nghĩa như rối loạn giấc ngủ do phá vỡ chu kỳ thức ngủ 24h bình thường thứ phát do du lịch, làm việc theo ca hay những nguyên nhân khác); (4) Ngừng thở lúc ngáy/ngủ; (5) Triệu chứhg hay bệnh sử sử dụng chất gây nghiện hay rượu; (6) Đang sử dụng thuốc làm xáo trộn giấc ngủ, ví dụ: kháng histamines, káhng viêm steroids, and ức chế beta.[24]

Nghiên cứu khác tập trung vào sự thay đổi giấc ngủ cử động mắt nhanh (REM) ở bệnh nhân mất ngủ và bệnh nhân rối loạn khí sắc. [8] Điện não đồ EEG và điện cơ đồ EMG trên giấc ngủ ở bệnh nhân trầm cảm cho thấy xáo trộn giấc ngủ liên tục gồm kéo dài thời gian chờ ngủ, tăng số lần thức, giảm thời gian ngủ và thức dậy sớm vào buổi sáng. Cũng trên EEG ở bệnh nhân này giảm thời gian khởi phát giai đoạn REM đầu tiên làm buồn ngủ và tăng hoạt động và tỷ trọng REM [8].

Mặc dù vẫn còn nghiên cứu thêm, nghiên cứu sự thay đổi trong giấc ngủ REM và trên bất thường trục hạ đồi – tuyến yên – thượng thận trong sinh lý bệnh của bệnh nhân có đồng thời mất ngủ và trầm cảm và/hoặc lo âu có ý nghĩa quan trọng trong điều trị. Ví dụ, nếu quá kích thích trục hạ đồi – tuyến yên – thượng thận tìm thấy có vai trò trong sinh lý bệnh của mất ngủ và trầm cảm / lo âu, thuốc tác động chính trên trục hạ đồi – tuyến yên – thượng thận có thể là cách điều trị tối ưu cả mất ngủ và rối loạn khí sắc đi kèm. Tuy thế, bằng chứng tăng tiết cortisol ở bệnh nhân mất ngủ mãn tính không chỉ thấy ở bệnh nhân có tăng nguy cơ rối loạn khí sắc, mà còn thấy họ có tăng nguy cơ phát triển bệnh nội khoa đi kèm với tăng tiết tuyến thượng thận như cao huyết áp và loãng xương.[27]

1.1. Liệu pháp nhận thức – hành vi

Liệu pháp nhận thức – hành vi giúp thay đổi niềm tin sai lầm và thái độ về giấc ngủ, như hành vi lo âu xung quanh việc kiểm soát số lượng và chất lượng giấc ngủ. Liệu pháp này xâm nhập vào những ý nghĩ gây khó khăn cho một người duy trì giấc ngủ, mà nó khởi động vòng mất ngủ dữ dội, cảm xúc khó chịu, và rối loạn hoạt động tư duy. Hy vọng không thực tế và khái niệm sai về mất ngủ và hậu quả của mất ngủ có thể lưu ý, cùng với có gắng thiết lập vòng thức – ngủ bình thường và giáo dục bệnh nhân về giấc ngủ bình thường và xáo trộn giấc ngủ.[30] Dữ liệu cho thấy rằng việc sử dụng liệu pháp nhận thức – hành vi để điều trị mất ngủ ở bệnh nhân phối hợp trầm cảm hay rối loạn lo âu cải thiện giấc ngủ tương tự như khi so sánh với liệu pháp này được sử dụng ở bệnh nhân mất ngủ mãn tính.[31]

1.3. Vệ sinh giấc ngủ

Vệ sinh giấc ngủ tập trung vào giáo dục bệnh nhân về những yếu tố sức khỏe và môi trường có thể gây tổn hại giấc ngủ, bao gồm sử dụng chất kích thích (cà phê và nicotine) hoặc rượu, hoặc hoạt động quá mức gần với giờ đi ngủ. Biện pháp khác là nhu cầu giảm thiểu ánh đèn, tiếng ồn, và nhiệt độ cao quá.[6] Dữ liệu cho rằng liệu pháp điều trị này khi phối hợp với dùng thuốc có thể có ích ở bệnh nhân trầm cảm.[8]

1.4. Thư giãn cơ từ từ

Thư giãn cơ từ từ, hay thư giãn cơ thể là liệu pháp điều trị dạy người bệnh căng thẳng theo trình tự và thư giãn nhóm cơ chính để làm giảm stress, lo âu, hay kích thích ban ngày và ban đêm quá mức ảnh hưởng đến giấc ngủ.[6,8] Một vài kinh nghiệm cho rằng khả năng sử dụng biện pháp này để điều trị mất ngủ ở bệnh nhân trầm cảm và/hoặc lo âu, nhưng thư giãn gây cảm giác trực giác như một cách giảm lo âu ở bệnh nhân. Thể dục thư giãn khác gồm hướng dẫn hình ảnh, thở bụng, nghiền ngẫm và biofeedback.

1.5. Kiểm soát kích thích

Mục đích của điều trị kiểm soát kích thích là làm cho mối liên kết giữa giấc ngủ và chiếc giường hay phòng ngủ mạnh lên và làm giảm mối liên kết thiếu ngủ và chiếc giường hay phòng ngủ. Bệnh nhân được chỉ dẫn chỉ đi ngủ khi rất mệt, chỉ sử dụng chiếc giường cho giới hạn hoạt động (ngủ và hoạt động tình dục), không ngủ ngày, và thiết lập nhịp độ ngủ.[8]

1.6. Mục đích nghịch lý

Biện pháp này giúp loại trừ hành vi lo âu đi kèm với khó ngủ bởi bệnh nhân để họ bận rộn với cách làm họ sợ, mà trong trường hợp này vẫn còn thức.[6,24]

1.7. Biofeedback

Biofeedback tập trung vào phản hồi thính giác và thị giác đến bệnh nhân giúp họ kiểm soát đặc tính sinh lý đi kèm với kích thích cơ thể như căng cơ.[24]

Trong cố gắng cung cấp một số biện pháp về hiệu quả của cách tiếp cận này trong điều trị mất ngủ, Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ về giấc ngủ phát triển những hướng dẫn về việc sử dụng điều trị này dựa trên bằng chứng đã có. Sách xuất bản năm 2000, những hướng dẫn này khuyên chỉ kiểm soát kích thích chấp nhận như liệu pháp hành vi chuẩn điều trị mất ngũ mãn tính.[20,24] Thư giãn cơ từ từ, biofeedback và mục đích nghịch lý đều được chỉ định tốt; giới hạn ngủ và liệu pháp hành vi – nhận thức được lập danh sách như chiến lược điều trị tối ưu và vệ sinh giấc ngủ giáo dục và huấn luyện hình ảnh không khuyến cáo do dữ liệu không đầy đủ. Tuy nhiên, những hướng dẫn này không tập trung đặc biệt vào sự hữu ích của những biện pháp này điều trị mất ngủ ở bệnh nhân có trầm cảm và/hoặc lo âu.

2. Điều trị dùng thuốc

Điều trị mất ngủ dùng thuốc đi kèm với trầm cảm và/hoặc lo âu có thể tập hợp thành 4 cách chính: thuốc chống trầm cảm đơn thuần, kết hợp 2 thúôc chống trầm cảm, thuốc ngủ hay giải lo âu đơn thuần (benzodiazepine, không phải benzodiazepine, hay an thần), và kết hợp thuốc chống trầm cảm và giải lo âu.[20]

2.1.Thuốc chống trầm cảm đơn thuần

Dùng thuốc ức chế vào lại chọn lọc serotonin (SSRI) phải được xem như là thuốc hàng đầu điều trị lo âu mãn tính và/hoặc trầm cảm đi kèm với triệu chứnh mất ngủ thứ phát. Dữ liệu cho thấy cải thiện mất ngủ ở bệnh nhân trầm cảm với thuốc này.[8] Điểm thuận lợi của thuốc chống trầm cảm SSRI hơn thuốc chống trầm cảm cũ là cải thiện tác dụng phụ, mặc dù bất lợi chính của thuốc là tác dụng buồn ngủ trực tiếp.

Mặc dù tất cả thuốc SSRI thích hợp được xem có hiệu quả trong điều trị trầm cảm không biến chứng, chúng không đựơc chấp thuận tất cả để điều trị lo âu kết hợp trầm cảm. Chỉ có Escitalopram và Paroxetine được chấp thuận điều trị lo âu. 2.2. Kết hợp thuốc chống trầm cảm

Kết hợp 2 thúôc chống trầm cảm đã trở nên sử dụng rộng rãi điều trị mất ngủ ở bệnh nhân có trầm cảm và / hoặc lo âu. [8] Cổ điển, thúôc chống trầm cảm 3 vòng êm dịu hay thuốc chống trầm cảm khác như Trazodone, được kết hợp với SSRI ít êm dịu. Số liệu giới hạn thích hợp cho hiệu quả của biện pháp điều trị này đựơc dung nạp tốt. Lưu ý nên kiểm tra nếu điều trị này dùng cho người già, bởi vì tác dụng anticholinergic của thuốc chống trầm cảm êm dịu có thể gây ra giai đoạn lú lẫn cấp hay bán cấp. Ví dụ cho điều trị này là kết hợp với SSRI (như Escitalopram 10 – 20mg/ngày) với liều thấp Trazodone (50 – 150mg/ngày) hay chống trầm cảm 3 vòng êm dịu (như Amitriptyline 25 – 150mg/ngày)

Nếu thuốc ngủ hay thuốc giải lo âu được sử dụng, thuốc được kê toa trong thời gian giới hạn. Tuy nhiên, không phải tất cả benzodiazepine đều giống nhau; ví thời gian bán hủy khác nhau rõ rệt. Những thuốc có thời gian bán huỷ ngắn được thải trừ nhanh nhưng dường như nó gây ra tác dụng dội ngược lo âu và mất ngủ. Những thuốc benzodiazepine có thời gian bán hủy dài có thể cho gián đoạn mà không gây tác dụng dội ngược, nhưng bệnh nhân có thể trải qua “tác dụng trì hoãn – carryover effects” do tích luỹ hoạt động chuyển hóa mà nó gây ra chóng mặt ngày kế tiếp và vấn đề thăng bằng và trí nhớ nếu thuốc đựơc cho đúng căn bản. Tuy thế, tốt nhất nên kê toa benzodiazepine có thời gian bán hủy trung gian (Temazepam 15mg) hay không phải benzodiazepine (Zolpidem 5 – 10mg) trong thời gian ngắn. Một thông tin cần phải nhấn mạnh lại là: không phải thuốc ngủ hay không phải thuốc giải lo âu nào được sử dụng mơ hồ cho điều trị mất ngủ kèm lo âu và/hoặc trầm cảm. [33]

2.4. Kết hợp thúôc chống trầm cảm với thuốc ngủ.

Sử dụng thuốc ngủ như là thuốc hỡ trợ cho điều trị thuốc chống trầm cảm được xem có hiệu quả điều trị mất ngủ kèm trầm cảm. [8] Nhiều nghiên cứu cho thấy cải thiện nhanh hơn đặc biệt trong mất ngủ và lo âu, ở bệnh nhân điều trị kết hợp 2 thuốc trên so sánh với đơn trị liệu thuốc chống trầm cảm.[34] Ưu điểm chính của chiến lược điều trị này là cho tác dụng gây ngủ, có tác dụng phụ ít. Tương tác giữa các thuốc vẫn còn là khuyết điểm. Ví dụ kết hợp SSRI (Sertraline 50 – 200mg/ngày) với Zolpidem (5 – 10mg ngày).

Khi thúôc chống trầm cảm được xem như thuốc trước tiên điều trị lo âu / trầm cảm, và thuốc ngủ được kê toa như là thuốc phụ thêm, thúôc ngủ nên kê toa trong thời gian ngắn 7 – 10 ngày, và sau đó nếu có thể nên ngừng thuốc. Nếu thuốc ngủ duy trì lâu dài, đánh giá lại liều lượng thúôc chu kỳ, hình thức sử dụng và hiệu quả.

Để điều trị thuốc này tối ưu, nhiều kết quả vẫn còn giữ kín. Thời gian cho liều SSRI và thuốc chống trầm cảm là quan trọng đảm bảo có tác dụng trên giấc ngủ. Đánh giá hiệu quả của nhiều thuốc trên chu kỳ thức ngủ nên thực hiện ít nhất 5 ngày trước khi thay đổi liều lượng thuốc. Hầu hết thúôc chống trầm cảm SSRI sẽ đựơc xem là “hoạt động” sớm trong việc sử dụng thuốc và nên cho thuốc vào buổi sáng. Khi tác dụng thuốc chống trầm cảm bắt đầu có trong 2 – 4 tuần thì tác dụng phụ thường ít đi.

Có cần điều trị mất ngủ ngay cả khi bệnh nhân không được chẩn đoán trầm cảm dựa trên nhiều dữ liệu cho thấy rằng mất ngủ là 1 yếu tố nguy cơ phát triển trầm cảm. Ngoài ra, số liệu đề ra rằng điều trị mất ngủ không đầy đủ ở bệnh nhân trầm cảm nhận thuốc chống trầm cảm thì kết quả điều trị xấu đi.[8] Mặc dù điều trị mất ngủ dùng thuốc là quan trọng và thường là cần thiết để điều trị mất ngủ, nhà lâm sàng cũng cần nhận ra rằng một số thuốc dùng điều trị mất ngủ đi kèm với trầm cảm và/hoặc lo âu có thể không phù hợp cho chẩn đoán mất ngủ nguyên phát. Ví dụ, sử dụng thuốc chống trầm cảm serotonergic để điều trị mất ngủ ở bệnh nhân có rối loạn cử động chi chu kỳ có thể làm nặng thêm rối loạn này.[20]

LƯU Ý THAM KHẢO

Trong khi bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu chú trọng đến hầu hết bệnh nhân cần chẩn đoán và điều trị mất ngủ, có nhiều tình huống cần tham khảo chuyên gia giấc ngủ hay trung tâm rối loạn giấc ngủ. Trong trường hợp mất ngủ có căn nguyên không rõ hay điều trị chuẩn chứng minh không đủ giảm thiểu hay loại trừ mất ngủ, nên khám chuyên gia giấc ngủ. Hầu hết trường đại học y khoa và những bệnh viện lớn ngày nay đều có những trung tâm rối loạn giấc ngủ đựơc công nhận tất yếu, kỷ thuật và chuyên môn cho một cuộc khám bệnh.

ĐIỀU TRỊ MẤT NGỦ TRONG TƯƠNG LAI

Tiếp tục cải thiện điều trị mất ngủ, nhiều kết quả cần đưa ra. Bác sĩ chăm sóc ban đầu nên nhận thức tần suất mất ngủ bà bản chất nhiếu mặt của rối loạn này. Bác sĩ chăm sóc ban đầu cũng phải nhận thức tầm quan trọng của điều trị đầy đủ bởi vì tỷ lệ mắc bệnh này cao và chi phí cao cho xã hội.

Cần có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của nhiều điều trị khác nhau để điều trị mất ngủ kèm lo âu, trầm cảm hay cả hai, bao gồm những thuốc chống trầm cảm đơn trị liệu hay kết hợp nhiều thuốc. Ngoài ra, nghiên cứu khác cần tập trung trên lợi ích của kết hợp điều trị dùng thuốc với liệu pháp hành vi. Việc thiếu những nghiên cứu so sánh những phương thức điều trị khác nhau, nên nghiên cứu tương lai phải nghiên cứu chiều sâu so sánh giữa những thuốc chống trầm cảm khác nhau và những nghiên cứu kết hợp điều trị với đơn trị liệu. Những nghiên cứu tương tự cần so sánh điều trị dùng thuốc so với kết hợp liệu pháp hành vi.[20]

Một câu hỏi chưa có câu trả lời là điều trị mất ngủ ở bệnh nhân mất ngủ không có lo âu và/hoặc trầm cảm có thể phòng ngừa hay làm giảm nguy cơ phát triển những bệnh này không?

TÓM TẮT

Mất ngủ là vấn đề thường gặp gây ra tỷ lệ mắc bệnh cho cá nhân và gây tổn hại kinh tế cao cho xã hội. Mặc dù tần suất mắc bệnh cao, mất ngủ vẫn còn chưa biết, chưa chẩn đoán và điều trị. Phần khác, do có khó khăn trong chẩn đoán bệnh này vì mất ngủ có thể là 1 triệu chứng hay 1 rối loạn.

Vấn đề mất ngủ phức tạp thường cùng tồn tại trầm cảm và/hoặc lo âu. Mặc dù cổ điển là mất ngủ là một triệu chứng thứ phát của trầm cảm và/hoặc lo âu, dữ liệu mới cho thấy rằng mất ngủ cũng là yếu tố đầu tiên phát triển thành trầm cảm. Việc giảm nguy cơ phát triển trầm cảm cần điều trị mất ngủ đầy đủ. Ơ bệnh nhân sẵn sàng điều trị trầm cảm và /hoặc lo âu, điều trị đầy đủ mất ngủ cũng còn tranh luận, những nghiên cứu điều trị thuốc chống trầm cảm tăng hiệu quả ở bệnh nhân có thể ngủ được.

Có nhiều cách điều trị mất ngủ kết hợp trầm cảm và/hoặc lo âu như dùng thuốc chống trầm cảm đơn thuần, kết hợp 2 thuốc chống trầm cảm, thuốc ngủ đơn thuần, hay kết hợp thuốc chống trầm cảm với thuốc ngủ. Không có số liệu nào thích hợp cho thấy cách điều trị này hiệu quả cao hơn cách điều trị kia, và sự lựa chọn ưa thích của thầy thuốc.

References

Roth T, Roehrs T. Insomnia: epidemiology, characteristics, and consequences. Clin Cornerstone. 2003;5:1-13. Ford DE, Kamerow DB. Epidemiologic study of sleep disturbances and psychiatric disorders. An opportunity for prevention? JAMA. 1989;262:1479-1484. Ancoli-Israel A, Roth T. Characteristics of insomnia in the United States: Results of the 1991 National Sleep Foundation Survey. I. Sleep. 1999;22(suppl 2):S347-S353. Abstract Chayon MM, Caulet M, Lemoine P. Comorbidity of mental and insomnia disorders in the general population. Compr Psychiatry. 1998;39:185-197. Abstract Simon GE, VonKorff M. Prevalence, burden, and treatment of insomnia in primary care. Am J Psychiatry. 1997;154:1417-1423. Abstract Cochran H. Diagnose and treat primary insomnia. Nurse Pract. 2003;28:15-27. Morin CM, Hauri PJ, Espie CA, et al. Nonpharmacologic treatment of chronic insomnia: An American Academy of Sleep Medicine review. Sleep. 1999;22:1134-1156. Abstract Nowell PD, Buysse DJ. Treatment of insomnia in patients with mood disorders. Depress Anxiety. 2001;14:7-18. Abstract Perlis ML, Giles DE, Buysse DJ, et al. Which depressive symptoms are related to which sleep EEG variables? Biol Psychiatry. 1997;42:904-913. McCall WV, Reboussin BA, Cohen W. Subjective measurement of insomnia and quality of life in depressed inpatients. J Sleep Res. 2000;9:43-48. Abstract Buysse DJ, Reynolds CF, Hauri PJ, et al. Diagnostic concordance for DSM-IV sleep disorders: a report from the APA/NIMH DSM-IV field trial. Am J Psychiatry. 1994;151:1351-1360. Abstract Breslau N, Roth T, Rosenthal L, et al. Sleep disturbance and psychiatric disorders: a longitudinal epidemiological study of young adults. Biol Psychiatry. 1996;39:411-418. Abstract Schenck CH, Mahowald MW, Sack RL. Assessment and management of insomnia. JAMA. 2003;289:2475-2479. Abstract Mendelson WB, Roth T, Cassella J, et al. The treatment of chronic insomnia: drug indications, chronic use and abuse liability. Summary of a 2001 New Clinical Drug Evaluation Unit Meeting Symposium. Sleep Med Rev. 2004; 8:7-17. Abstract Ohayon MM, Roth T. Place of chronic insomnia in the course of depressive and anxiety disorders. J Psychiatr Res. 2003;37:9-15. Abstract Drake CL, Roehrs T, Roth T. Insomnia causes, consequences, and therapeutics: an overview. Depress Anxiety. 2003;18:163-176. Abstract Chang PP, Ford DE, Mead LA, et al. Insomnia in young men and subsequent depression. The Johns Hopkins Precursors Study. Am J Epidemiol. 1997;146:105-114. Abstract American Psychiatric Association. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders. 4th ed (DSM-IV). Washington, DC: American Psychiatric Association; 1994: 557. Sateia MJ, Doghramji K, Hauri PJ, et al. Evaluation of chronic insomnia: an American Academy of Sleep Medicine Review. Sleep. 2000;23:243-255. Abstract Jindal RD, Thase ME. Treatment of insomnia associated with clinical depression. Sleep Med Rev. 2004;8:19-30. Abstract Mahowald ML, Mahowald MW. Nighttime sleep and daytime functioning (sleepiness and fatigue) in well-defined chronic rheumatic diseases. Sleep Med. 2000;1:179:193. Abstract Rosenthal L, Roehrs T, Sicklesteel J, et al. Periodic movements during sleep, sleep fragmentation, and sleep-wake complaints. Sleep. 1984;7:326-330. Abstract Buysse DJ, Reynolds CF, Monk TH, et al. The Pittsburgh Sleep Quality Index: a new instrument for psychiatric practice and research. Psychiatry Res. 1989 28;193-213. Chesson A Jr, Hartse K, Anderson WM, et al. Practice parameters for the evaluation of chronic insomnia. Sleep. 2000;23:237-241. Abstract Spielman AJ, Caruso LS, Glovinsky PB. A behavioral perspective on insomnia treatment. Psychiatr Clin North Am. 1987;10:541-553. Abstract Morin CM, Rodrigue S, Ivers H. Role of stress, arousal, and coping skills in primary insomnia. Psychosom Med. 2003;65:259-267. Abstract Vgontzas AN, Bixler EO, Lin HM, et al. Chronic insomnia is associated with nyctohemeral activation of the hypothalamic-pituitary-adrenal axis: clinical implications. J Clin Endocrinol Metab. 2001;86:3787-3794. Abstract Stepanski E, Zorick F, Roehrs T, et al. Daytime alertness in patients with chronic insomnia compared with asymptomatic control subjects. Sleep. 1988;11:54-60. Abstract Dashevsky BA, Kramer M. Behavioral treatment of chronic insomnia in psychiatrically ill patients. J Clin Psychiatry. 1998;59:693-699. Abstract Morin CM. Insomnia – Psychological Assessment and Management. New York-London: The Guilford Press; 1993. Morin CM, Stone J, McDonald K. Psychological management of insomnia: a clinical replication series with 100 patients. Beha Ther. 1994;25:291-309. Health Canada: Health Products and Food Branch. Letter from Bristol-Myers Squibb Canada. Discontinuation of sales of nefazodone in Canada. October 2, 2003. Available at: http://www.hc-sc.gc.ca/hpfb-dgpsa/tpd-dpt/bms_nefazodone_2_hpc_e.pdf Accessed June 7, 2004. Cadieux RJ. Geriatric psychopharmacology: a primary care challenge. Postgrad Med. 1993;93:281-301. Abstract Sussman N. Anxiolytic antidepressant augmentation. J Clin Psychiatry. 1998;59:42-48. Suggested Reading

American Academy of Sleep Medicine. The International Classification of Sleep Disorders: Diagnostic and Coding Manual. Revised. Rochester, Minn: ASDA; 2001. Buysse DJ. Rational pharmacotherapy for insomnia: time for a new paradigm. Sleep Med Rev. 2000;4:521-527.

National Sleep Foundation. 2000 Omnibus sleep in America poll. Available at: http://www.sleepfoundation.org/publications/2000poll.cfm Accessed June 16, 2004.

Smith WT, Londborg PD, Glaudin V, et al. Short-term augmentation of fluoxetine with clonazepam in the treatment of depression: a double-blind study. Am J Psychiatry. 1998;155:1339-1345. Smith WT, Londborg PD, Glaudin V, et al, Summit Research Network. Is extended clonazepam cotherapy of fluoxetine effective for outpatients with major depression? J Affect Disord. 2002;70:251-259.

World Health Organization. International Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems. 10th revision. Geneva, Switzerland: WHO; 1992.

Người dịch: BS Nguyễn Nguyên Thục Minh, BS ThS, Khoa nội trú nữ, BVTT TP.HCM.

Xuyên Tâm Liên, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Xuyên Tâm Liên / 2023

Tên khác:

Xuyên tâm liên còn gọi là Công cộng, Nhất kiến hỷ, Lãm hạch liên, Khổ đởm thảo, Khái liên, Cây lá đắng, Khô đảm thảo, Nhất kiến kỷ

Tên tiếng trung: 穿心蓮

Tên khoa học: Andrographis paniculata (Burm f) Nees.

Họ khoa học: Họ Ô rô (Acanthaceae)

Cây Xuyên tâm liên

(Mô tả, hình ảnh cây xuyên tâm liên, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả

Cây nhỏ sống 1-2 năm, mọc thẳng đứng, có thể cao đến 1m. Thân vuông, phân nhánh nhiều, các cành mọc theo 4 hướng. Lá mọc đối, có cuống ngắn, phiến lá hình trứng, dài 4-6cm. Hoa nhỏ, màu trắng có điểm hường, mọc thành chùm ở nách lá hay ở ngọn cành. Quả nang dài 16mm, rộng 3,5mm. Hạt hình trụ, thuôn dài, màu nâu nhạt.

Phấn bố và thu hái:

Cây của phân bố nhiều vùng Ấn Độ – Malaysia, mọc hoang và cũng được trồng. Trồng bằng hạt vào mùa xuân. Cây mọc nhanh, sau 80-90 ngày đã thu hoạch được.

Phần trên mặt đất của cây thu hái vào đầu thu khi cây bắt đầu ra hoa, cắt thành từng đoạn, phơi hoặc sấy.

Thành phần hóa học

Trong cây và lá có các acid hữu cơ, tanin, chất nhựa, đường,…

Trong lá có các hoạt chất deoxyan-drographolide 0,1% hay hơn, andrographolide 1,5% hay hơn, neoandrographolide 0,2%, homoandrographolide, panicolide. Còn có andrographan, andrographon, andrographosterin.

Rễ chứa mono-O-methylwithtin, andrographin, panicolin, apigenin-7,4′-dimethyl ether. Toàn cây chứa 14-deoxy-11-oxoandrographolide, 14-deoxy -11,12-didehydroandrographolide,… và các panniculide A, B, C.

Tác dụng dược lý:

Tác dụng chống viêm trên lâm sàng rõ rệt nhưng trên thực nghiệm tác dụng kháng khuẩn không rõ rệt. Các tác giả nhận định chống viêm có thể do thuốc làm tăng tác dụng thực bào của bạch cầu.

Bốn loại Xuyên tâm liên tố đều có tác dụng kháng viêm và hạ nhiệt. Tính kháng viêm tác động thông qua tuyến thượng thận.

Xuyên tâm liên tố A, B, C, D trên thực nghiệm đều có tác dụng làm teo tuyến ức chuột nhắt và tác dụng tăng cường chức năng vỏ tuyến thượng thận

Thuốc có tác dụng kéo dài thời gian sống của chuột nhắt bị rắn độc cắn gây suy hô hấp. Thuốc có tác dụng làm sẩy thai ở chuột nhắt và thỏ.

Có tác dụng lợi mật ở chuột lớn.

Vị thuốc xuyên tiêu

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Tính vị:

Vị đắng tính hàn.

Qui kinh:

Vào kinh phế, vị, đại tràng và tiểu tràng.

Công dụng:

Thanh nhiệt, giải độc, trừ thấp, hoạt huyết, tiêu thũng chỉ thống. Xuyên tâm liên có tính kháng sinh mạnh đối với nhiều loại vi trùng. Nó còn làm tăng khả năng thực trùng của bạch cầu. Nó có tác dụng giảm đau tương tự aspirin, và làm hạ huyết áp nhưng không gây tai biến gì

Liều dùng:

Ngày dùng 6-15g.

Chống chỉ định:

Dùng quá liều kéo dài vị thuốc này có thể làm suy vị khí.

Ứng dụng lâm sàng của Xuyên tâm liên

Khởi phát bệnh do sốt nóng gây ra biểu hiện như sốt, đau đầu và đau họng:

Dùng phối hợp xuyên tâm liên với kim ngân hoa, cát cánh và ngưu bàng tử.

Nhiệt ở phế biểu hiện như ho và hen hoặc ho có đờm vàng:

Dùng phối hợp xuyên tâm liên với ngư tịch thảo, cát cánh và qua lâu.

Lỵ do thấp và nhiệt:

Dùng phối hợp xuyên tâm liên với mã xỉ hiện.

Tham khảo

Xuyên tâm liên Thường được dùng trị cảm sốt, cúm, trị ho, viêm họng, viêm phổi, sưng amidan, viêm đường tiết niệu, viêm âm đạo, viêm loét cổ tử cung, khí hư, đau bụng kinh, viêm nhiễm đường ruột (lỵ, trực trùng, nhiễm độc thức ăn, sình bụng, sôi bụng, ỉa chảy, bệnh tướt của trẻ em), huyết áp cao, đau nhức cơ thể, tê thấp, mụn nhọt, vết thương giải phẫu, bỏng.

Dùng ngoài giã đắp mụn nhọt, ghẻ lở và rắn cắn. Cũng được dùng để chữa bệnh cho gia súc, gia cầm (sốt, bệnh phổi, ỉa chảy, lỵ, bệnh toi gà…). Liều dùng 10-20g toàn cây sắc uống. Tán bột uống mỗi ngày 2-4g, chia làm 2-3 lần. Dùng ngoài không kể liều lượng giã đắp hoặc nấu nước rửa. Có thể chế thuốc mỡ để bôi.

Nơi mua bán vị thuốc XUYÊN TÂM LIÊN đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc XUYÊN TÂM LIÊN ở đâu?

XUYÊN TÂM LIÊN là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao. Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc XUYÊN TÂM LIÊN được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc XUYÊN TÂM LIÊN tại Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn:

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám: Cơ sở 1: Số 482, lô 22C, Lê Hồng Phong, Ngô Quyền, Hải Phòng

Tag: cay Xuyen tam lien, vi thuoc Xuyen tam lien, cong dung Xuyen tam lien, Hinh anh cay Xuyen tam lien, Tac dung Xuyen tam lien, Thuoc nam

Thaythuoccuaban.com Tổng hợp

*************************