Thuốc Cai Rượu Viện 103 / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 6/2023 # Top View | Sdbd.edu.vn

Thuốc Cai Rượu Boniancol Giúp Bạn Cai Rượu Vĩnh Viễn

Cách cai rượu an toàn với thuốc cai rượu boniancol

Những người nghiện rượu lâu năm và nghiện nặng đã cố cai rượu và thất bại nhiều lần , khi tìm đến phương pháp cai rượu bằng Boniancol đều có hiệu quả tốt. Bài viết này chúng tôi xin cung cấp cho các bạn một số thông tin về thuốc cai rượu Boniancol.

Tại sao phải cai rượu?

Rượu là một loại thức uống có cồn, thức uống này đã ăn sâu vào máu của đại bộ phận người dân Việt Nam, đặc biệt là những người ở nông thôn, có một thực trạng là những người nghiện rượu thường thì không có thu nhập ổn định, nghiện rượu họ lại càng trở nên bê tha hơn. Suốt ngày say xỉn, có bao nhiêu tiền cũng chỉ dồn vào rượu.

Họ vì rượu quên đi việc làm ăn, quên hết tháng ngày, không còn biết trời đất là gì, quên đi người thân đang cần họ, họ ngày càng trở thành gánh nặng trong gia đình.

Hơn thế nữa, khi say xỉn họ không còn tỉnh táo, tâm tính cũng thay đổi, không ít người cứ chìm trong men say về nhà đánh vợ đánh con, đập phá đồ đạc trong nhà, gây ra bao nhiêu chuyện bê bối trong xã hội.

Đối với bản thân, nghiện rượu là bán linh hồn cho quỷ dữ, bán thân xác cho thần chết một cách sớm nhất, uống rượu nhiều dẫn đến xơ gan, ung thư gan, rối loạn trí nhớ, tổn thương dây thần kinh ngoại biên, suy tim,…

Thuốc cai rượu Boniancol, thuốc cai cai rượu bia an toàn vĩnh viễn hiệu quả nhất trên thị trường.

Thuốc cai rượu Boniancol có nguồn gốc từ Canada, có tác dụng làm giảm cảm giác thèm rượu rất tốt, bảo vệ gan thận của bạn. Những người nghiện rượu nặng, liệu trình cai rượu với Boniancol chỉ trong vòng 2 tháng.

Thuốc được các bác sĩ đề cao công dụng cai rượu, giảm cảm giác thèm rượu, bảo vệ gan thận khỏi tác hại của rượu, trong quá trình cai rượu sẽ cảm thấy tỉnh táo, không cảm thấy khó chịu, dần dần mất cảm giác thèm uống. Thuốc không gây ra bất kỳ tác dụng phụ nào. Đây là cách cai rượu an toàn nhanh chóng nhất hiện nay.

Thuốc Cai Rượu Tốt Nhất Hiện Nay Là Gì ? Có Nên Cai Rượu Đột Ngột Không?

Khi đột nhiên ngừng uống rượu, cơ thể người xuất hiện hội chứng cai với các biểu hiện như run rẩy, mất ngủ, bồn chồn lo lắng…

Rượu có những hậu quả chậm trên não bộ, được coi là một thứ an thần hay gây trầm cảm. Ở người nghiện lâu năm, bộ não hầu như bị tác dụng trầm cảm của rượu một cách liên tục. Qua thời gian, bộ não tự điều hòa các hóa chất để bù đắp lại những hậu quả của rượu. Đó là sản sinh ra những chất hóa học có tính kích thích như serotonin hay norepinephrine (liên hệ với chất adrenaline) với một lượng lớn hơn bình thường.

Nếu từ bỏ rượu đột ngột (do cai), bộ não lúc ấy giống một chiếc xe đang chạy nhanh mất phanh. Hầu hết các triệu chứng cai rượu xảy ra đều do não bị kích thích quá độ. Biểu hiện lâm sàng nguy hiểm nhất xảy ra ở 1/20 người cai là chứng rung sảng, lúc đó não bộ không còn điều hòa được các hóa chất khi ngưng rượu. Rung sảng là một tình trạng lú lẫn tạm thời, não bộ không còn kiểm soát được nhiều thứ như tuần hoàn, nhịp thở. Các dấu hiệu sinh tồn như nhịp tim và huyết áp thay đổi rất đột ngột và không thể tiên đoán, dễ dẫn đến suy tim, đột quỵ và tử vong. Vì vậy, muốn cho bộ não điều chỉnh lại thói quen uống rượu, cần có một thời gian dài giúp não lập lại thế cân bằng.

Những triệu chứng sau cai rượu rất hay thay đổi, khó tiên đoán sau lần uống cuối cùng và không phải mọi bệnh nhân đều có đầy đủ:

Run rẩy: Bắt đầu khoảng 5-10 giờ sau lần uống cuối và đạt đến đỉnh điểm sau 24-48 giờ. Tiếp theo chứng run rẩy là mạch nhanh, tăng huyết áp, thở nhanh, vã mồ hôi, buồn nôn, lo lắng, bồn chồn, mộng mị và mất ngủ.

Ảo giác do rượu: Triệu chứng này bắt đầu 12-24 giờ sau lần uống cuối, có thể kéo dài 2 ngày. Thường người cai rượu thấy vô số vật nhỏ, tương tự nhau và động đậy. Đôi lúc họ còn nhận ra hình như có nhiều con côn trùng bò qua lại hay tiếng đồng tiền xu rơi.

Co giật do cai rượu: Co giật có thể xảy ra 6-48 giờ sau lần uống cuối cùng và thông thường có nhiều cơn co giật xảy ra liên tiếp trong nhiều giờ. Nguy cơ lớn nhất sau 24 giờ là bị bệnh động kinh, thể cơn lớn.

Rung sảng: Thường xảy ra 2-3 ngày sau lần uống cuối, có thể trễ hơn, sau 1 tuần. Đỉnh điểm thường là 4-5 ngày sau lần uống cuối. Tình trạng này gây ra nguy hiểm cho nhịp thở, tuần hoàn và nhiệt độ bệnh nhân; có thể khiến tim đập rất nhanh, huyết áp tăng quá mức hoặc là một tình trạng mất nước nguy hiểm. Tình trạng sảng run còn giảm lượng máu đến não, gây nôn, mê sảng, mất phương hướng, đờ đẫn, mê man, tính khí giận dữ bất thường, niềm tin bất hợp lý hoặc vã mồ hôi, rối loạn giấc ngủ và nhiều ảo giác.

thường cải thiện sau 5 ngày, cũng có một số nhỏ bệnh nhân kéo dài nhiều tuần lễ. Nếu bệnh nhân có nôn mửa nhiều, co giật hay rung sảng, an toàn nhất là nhập viện. Đối với chứng sảng rung, phải điều trị ở chuyên khoa hồi sức cấp cứu; nơi bệnh nhân. được theo dõi sát về nhịp tim, nhịp thở, huyết áp; đôi lúc phải dùng máy thở.

Các thuốc nhóm benzodiazepines có thể giúp giảm triệu chứng cai rượu; thường dùng là Valium, Libirum và Ativan. Bệnh nhân cai rượu thường thiếu hụt nhiều vitamin và khoáng chất cùng lúc, cần bổ sung. Hay thiếu nhất là folate, thiamine, B12, magiê, kẽm và phosphate. Bệnh nhân có thể giảm cả đường huyết.

Bởi vạy, cai rượu đột ngột gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng, có thể ảnh hưởng tới tính mạng bệnh nhân nếu không được cấp cứu kịp thời.

Thuốc cai rượu tốt nhất hiện nay là gì ?

Nhiều bà vợ vì quá chán cảnh chồng suốt ngày nhậu nhẹt say xỉn, nên nghĩ ra chiêu độc: ra hiệu thuốc mua thuốc cai rượu cho chồng uống. Phổ biến nhất là Espéral cũng chính là disulfiram (ngoài Espéral, disulfiram còn có tên biệt dược khác là Antabuse. Thực chất, thuốc này không làm giảm cảm giác thèm rượu mà chỉ ngăn chặn sự chuyển hoá và đào thải rượu, làm rượu tích luỹ trong cơ thể dưới dạng độc chất ( acetaldehyd) gây phản ứng ngộ độc rất khó chịu, khiến dân nhậu vì quá kinh hãi mà không dám uống rượu nữa.

Espéral tuyệt đối không được dùng cho người bị bệnh về tim mạch, tiểu đường hoặc nhạy cảm với thuốc…

Như vậy, nếu các bà tự ý mua thuốc Espéral về lén cho ông xã uống, các ông do không biết nên vẫn uống rượu thì việc làm ấy hết sức nguy hiểm, không khác nào đầu độc chồng, nếu không được đưa đi cấp cứu kịp thời ở bệnh viện, có thể tử vong!

Ngày nay, các nhà khoa học đã tìm ra một loại acid amin rất an toàn, có cơ chế hoàn toàn khác biệt đó chính là L-Glutamin. L-Glutamin giúp kích thích tăng tiết serotonin trong não, do đó làm giảm cảm giác thèm rượu, giảm khó chịu trong quá trình bỏ rượu, từ đó hỗ trợ bệnh nhân cai rượu hiệu quả.

Ứng dụng công trình nghiên cứu trên, các nhà khoa học của tập đoàn dược phẩm Viva Nutraceutical Inc đã bào chế thành công viên uống hỗ trợ cai rượu BoniAncol.

Ưu điểm của phương pháp bỏ rượu bằng BoniAncol

So với các phương pháp khác, bỏ rượu bằng có những ưu điểm như sau:

– Không cần phải bỏ rượu đột ngột: người nghiện rượu vẫn có thể sử dụng rượu trong quá trình bỏ rượu, BoniAncol sẽ làm giảm cảm giác thèm rượu, làm người nghiện chán rượu và dần dần họ sẽ chủ động giảm uống rượu theo thời gian.

– Có thể bỏ rượu tại nhà: người nghiện rượu vẫn có thể uống rượu trong quá trình bỏ rượu, vì thế sẽ không gặp phải hội chứng cai rượu, giúp người nghiện rượu từ bỏ rượu một cách an toàn và hiệu quả

– Chi phí bỏ rượu nhẹ nhàng hơn so với các biện pháp bỏ rượu khác

Một liệu trình bỏ rượu bằng BoniAncol là từ 3-6 tháng, BoniAncol không những giúp bỏ rượu an toàn mà còn giúp giảm thiểu những tác hại của rượu, giúp cơ thể phục hồi sau một thời gian dài sử dụng rượu bia.

BoniAncol là sản phẩm chất lượng do công ty Botania phân phối, năm 2014 và 2017 BoniAncol vinh dự được nhận giải thưởng “Sản phẩm vàng vì sức khỏe cộng đồng”, do chủ tịch hiệp hội thực phẩm chức năng trao tặng.

Sau nhiều năm có mặt trên thị trường, BoniAncol đã giúp nhiều người nghiện bỏ rượu thành công:

Từ hồi dùng BoniAncol mặc dù rượu vẫn uống nhưng chú lại rất khỏe không bị say xỉn, 3 tháng dùng BoniAncol là 3 tháng chú chưa 1 lần phải đi bệnh viện vì không bị co giật, mê man nữa, huyết áp và tim mạch đều ổn định. Chú đến bữa ăn uống được như người bình thường, da dẻ cũng hồng hào trở lại. Trước đây nhìn thấy rượu là phải uống cho tới khi say không biết gì nữa mới thôi. Nhưng sau 3 tháng dùng BoniAncol hiện tượng đó đã hết hẳn, chú đã làm chủ rượu rồi, tức là định mức được, mình uống bao nhiêu thì uống, không uống thì ngừng, uống rượu cũng không thấy ngon nữa. Người khỏe, chân tay không bị co giật run rẩy nữa nên chú đã quay trở lại với công việc ở cửa hàng đồng hồ, kính mắt mà vì rượu chú đã bỏ bê mấy năm nay”.

Thuốc Cai Nghiện Rượu Acamprosate

Hoạt chất : Acamprosate

Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N07BB03.

Brand name: Campral.

Generic : Acamprosate

2. Dạng bào chế – Hàm lượng: Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 333 mg.

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng: 4.1. Chỉ định:

Thuốc được sử dụng để cai nghiện rượu. Thuốc nên được sử dụng theo phác đồ điều trị bao gồm cả tư vấn và hỗ trợ tâm lý.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng : Dùng uống.

Liều dùng:

Liều lượng điển hình là 6 viên chia ba lần mỗi ngày.

Không cần sử dụng lại Acamprosate trong trường hợp uống rượu trở lại vì thuốc có tác dụng lâu dài.

Người lớn trong độ tuổi từ 18-65 tuổi:

Dùng 2 viên ba lần mỗi ngày với bữa ăn (sáng, trưa và tối) ở những đối tượng nặng từ 60kg trở lên.

Ở những đối tượng có cân nặng dưới 60kg, 4 viên chia làm ba lần mỗi ngày với bữa ăn (2 viên vào buổi sáng, 1 vào buổi trưa và 1 vào buổi tối).

Người lớn tuổi

Acamprosate không nên được sử dụng ở người lớn tuổi

Acamprosate không nên được sử dụng ở trẻ em

Thời gian điều trị được đề nghị là một năm. Điều trị bằng acamprosate nên được bắt đầu càng sớm càng tốt sau thời gian rút và nên duy trì nếu bệnh nhân tái phát.

Acamprosate không ngăn chặn tác hại của việc lạm dụng rượu liên tục. Lạm dụng rượu liên tục giảm tác dụng điều trị, do đó, điều trị bằng acamprosate chỉ nên được bắt đầu sau khi kiêng rượu.

4.3. Chống chỉ định:

Thuốc chống chỉ định trong trường hợp bệnh nhân bị dị ứng hoặc tăng mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

Phụ nữ cho con bú.

Suy thận.

4.4 Thận trọng:

Sự an toàn và hiệu quả của Acamprosate chưa được thiết lập ở những bệnh nhân dưới 18 tuổi hoặc trên 65 tuổi. Do đó, Acamprosate không được khuyến khích sử dụng cho các đối tượng này.

Sự an toàn và hiệu quả của Acamprosate chưa được thiết lập ở những bệnh nhân bị suy gan nặng.

Lạm dụng và phụ thuộc

Các nghiên cứu phi lâm sàng cho thấy acamprosate có ít hoặc không có khả năng bị lạm dụng. Không có bằng chứng về sự phụ thuộc vào acamprosate được tìm thấy trong bất kỳ nghiên cứu lâm sàng nào, do đó chứng minh rằng acamprosate không có tiềm năng phụ thuộc đáng kể.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú: Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B2

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Không có dữ liệu đầy đủ từ việc sử dụng Acamprosate ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật không chỉ ra bất kỳ bằng chứng nào về độc tính hoặc nhiễm độc tố. Do đó, Acamprosate chỉ được sử dụng trong thai kỳ sau khi đánh giá lợi ích / rủi ro.

Thời kỳ cho con bú:

Được biết, Acamprosate được bài tiết qua sữa của động vật. Người ta không biết liệu acamprosate được bài tiết qua sữa mẹ hay không. Không có dữ liệu việc sử dụng acamprosate ở trẻ sơ sinh. Do đó, Acamprosate không được sử dụng ở phụ nữ cho con bú.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100, <1/10), không thường gặp (1 / 1.000, <1/100), hiếm (≥ 1 / 10.000, <1 / 1.000), rất hiếm (<1 / 10.000), tần số không xác định (không thể ước tính từ dữ liệu có sẵn)

Rối loạn tiêu hóa:

Rất thường gặp: Tiêu chảy

Thường gặp: Đau bụng, buồn nôn, nôn, đầy hơi

Rối loạn da và mô dưới da:

Thường gặp: Ngứa, nổi mẩn đỏ

Rối loạn hệ thống miễn dịch:

Rất hiếm: Phản ứng quá mẫn bao gồm nổi mề đay, phù mạch hoặc phản ứng phản vệ.

Hệ thống sinh sản và rối loạn tiết sữa:

Thường gặp: Sự khó chịu hoặc bất lực.

Rối loạn tâm thần:

Thường gặp: Giảm ham muốn

Không thường gặp: Tăng ham muốn

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc. 4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Việc uống đồng thời rượu và acamprosate không ảnh hưởng đến dược động học của rượu hoặc acamprosate. Sử dụng acamprosate với thực phẩm làm giảm sinh khả dụng của thuốc so với việc sử dụng thuốc ở trạng thái đói.

Trong các thử nghiệm lâm sàng, acamprosate đã được sử dụng an toàn kết hợp với thuốc chống trầm cảm, thuốc giải lo âu, thuốc ngủ và thuốc an thần và thuốc giảm đau không opioid

Các nghiên cứu dược động học đã được hoàn thành và cho thấy không có tương tác giữa acamprosate và diazepam, disulfiram, oxazepam, tetrabamate, meprobamate hoặc imipramine.

Không có thông tin về việc sử dụng đồng thời acamprosate với thuốc lợi tiểu.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc : 5.1. Dược lực học:

Acamprosate đã được sử dụng đầu tiên ở châu Âu để điều trị nghiện rượu từ năm 1989. Trong năm 2004 nó trở thành thuốc thứ ba được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ chấp thuận cho chỉ định cai rượu, sau disulfiram (Antabuse) và naltrexone (Revia). Acamprosate có cấu trúc tương tự axit γ -aminobutyric (GABA). Acamprosate có tác dụng giảm uống rượu bằng cách tác động các kênh canxi và làm thay đổi sự dẫn truyên của GABA và glutamine tại não, có thể dẫn đến giảm nhu cầu uống rượu, giảm cảm giác thèm rượu.

Nhiều nghiên cứu đã minh chứng sự an toàn của acamprosate. Không có nguy cơ lạm dụng hoặc lệ thuộc. Khả năng dung nạp khá tốt với hầu hết cá thể sử dụng.

Acamprosate được dung nạp rất tốt. Khoảng một nửa số bệnh nhân được sử dụng acamprosate ngưng được rượu trong vòng một năm , nhưng tỷ lệ này là tương tự như thấy với placebo. Mười đến 17 phần trăm bệnh nhân bị tiêu chảy, thường thoáng qua và là tác dụng phụ thường gặp nhất của acamprosate . Tác dụng phụ khác được báo cáo thường xuyên hơn với acamprosate so với giả dược là chóng mặt, ngứa, và TĂNG ham muốn tình dục . Tác dụng phụ không thường xuyên bao gồm lo âu , trầm cảm, suy nhược, buồn nôn, nôn , nhức đầu , buồn ngủ , và toát mồ hôi. Cơ quan nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ và chất lượng kết luận rằng có bằng chứng acamprosate cai rượu là hoàn toàn hợp lý, dung nạp tốt và không gây hại.

Acamprosate là có hiệu quả như naltrexone. Sự kết hợp của acamprosate và naltrexone có hiệu quả hơn so với acamprosate đơn độc, nhưng không hiệu quả hợn naltrexone đơn độc. Việc sử dụng kết hợp acamprosate và disulfiram có thể có hiệu quả hơn sử dụng một trong hai loại thuốc đơn độc.

Cơ chế tác dụng:

Ảnh hưởng đến sự cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh GABA và glutamate bằng cách giảm dẫn truyền glutamergic và điều hòa tình trạng tăng kích thích thần kinh.

Acamprosate (canxi acetylhomotaurinate) có cấu trúc hóa học tương tự như các chất kích thích thần kinh axit amin, như taurine hoặc axit gamma-amino-butyric (GABA), acetyl hóa để cho phép đi qua hàng rào máu não. Acamprosate có thể hoạt động bằng cách kích thích hệ ức chế dẫn truyền thần kinh GABAergic và đối kháng các chất kích thích, đặc biệt là glutamate.

[XEM TẠI ĐÂY] 5.2. Dược động học:

Hấp thu: Hấp thu chậm ở đường tiêu hóa. Giảm hấp thu khi dùng uống thuốc lúc no. Sinh khả dụng: Khoảng 11%. Thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương: 3-8 giờ.

Phân bố: Qua được hàng rào máu não. Thể tích phân bố: Khoảng 1 L/kg.

Thải trừ: Bài tiết qua thận dưới dạng không đổi. Thời gian bán thải: 20-33 giờ.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

Hoặc HDSD Thuốc.

Thuốc Cai Rượu Hiệu Quả,Cai Nghiện Ma Túy

ACAMPROSATE Acamprosate có cấu trúc tương tự GABA và được cho là ức chế hệ glutamatergic. Điều này giúp acamprosate làm giảm sự tăng hoạt động glutamatergic thường thấy ở bệnh nhân nghiện rượu mãn. Acamprosate được chỉ định để ngừa tái phát nghiện rượu. Nhiều nghiên cứu cho thấy thuốc có hiệu quả trong cải thiện tỉ lệ cai rượu so với placebo. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác chưa nhận thấy hiệu quả của acamprosate ở BN mới tái phát hoặc chỉ mới cai rượu ít ngày trước khi bắt đầu dùng thuốc. Do đó, acamprosate có hiệu quả tốt nhất khi dùng để duy trì cai rượu và ít hoặc không hiệu quả để khởi đầu cai rượu. Cách dùng. Acamprosate có viên nén 333mg, với liều khuyến cáo là 666mg × 3 lần/ngày. Tác dụng phụ thường nhẹ và thoáng qua. Nên giảm liều còn 333mg × 3 lần /ngày cho BN bị suy thận vừa (CrCl 30-50 mL/phút), và không dùng acamprosate cho BN suy thận nặng (CrCl < 30mL/phút). Tác dụng phu. Acamprosate dung nạp tốt trong các thử nghiệm lâm sàng; tiêu chảy và các tác dụng phụ dạ dày-ruột hay gặp nhất. Trong một số nghiên cứu có kiểm soát với placebo, BN dùng acamprosate có nhiều ý tưởng và mưu toan tự sát hơn BN dùng placebo. Những hiện tượng này rất hiếm gặp và chưa thấy có liên quan trực tiếp với acamprosate. Tuy vậy, cần theo dõi BN về trầm cảm và ý tưởng tự sát trong thời gian điều trị với acamprosate.

TOPIRAMATE Topiramate tăng cường GABA và ức chế dẫn truyền glutamate, đặc điểm được cho là đưa đến sự giảm phóng thích dopamine ở nhân nucleus accumbens khi sử dụng rượu. Mặc dù topiramate chưa được FDA chấp thuận trong NR, dữ liệu còn hạn chế khi so sánh thuốc chống động kinh này với placebo cho thấy có sự giảm uống rượu và tăng tỉ lệ cai rượu. Cho thuốc. Khởi đầu 25 mg/ngày và tăng dần đến 300mg/ ngày chia nhiều lần. Thuốc điều trị NR thường được nghiên cứu khi dùng hổ trợ cho liệu pháp hành vi. Nghiên cứu COMBINE trong 1383 BN cai rượu nhận thấy naltrexone kết hợp chăm sóc nội khoa có hiệu quả tương đương với liệu pháp nhận thức hành vi đơn độc. Chăm sóc nội khoa gồm môi trường nâng đỡ, khuyến khích sự tuân thủ, đồng cảm tạo quan hệ điều trị tốt, và tham gia các nhóm tương trợ. Khi chọn các thuốc, cần xem xét các khác biệt lâm sàng chủ yếu của chúng: + Naltrexone và topiramate có ích cho BN nghiện rượu khi bắt đầu điều trị và ngừa tái phát. + Acamprosate có thể ngừa tái phát ở BN cai rượu. + Disulfuram vẫn là một lựa chọn giá trị ở BN có động cơ tốt với sự nâng đỡ xã hội để đảm bảo sự tuân thủ.

Quá mẫn cảm là một chống chỉ định với mọi thuốc. BN trên dung nạp tốt với liều khởi đầu 25mg/ngày, tăng dần lên 50 rồi 100mg sau nhiều ngày. Nên tăng naltrexone uống lên 100mg/ngày – mặc dù thường được cho ở liều 50mg/ngày- do bằng chứng gần đây cho thấy thuốc hiệu quả và an toàn ở liều cao hơn .

Các thuốc như disulfuram, naltrexone, acamprosate, và topiramate có thể giúp ích cho liệu pháp hành vi trong điều trị NR. Một số thuốc giúp khởi đầu cai rượu trong khi một số khác giúp duy trì cai rượu. Để thúc đẩy sự tuân thủ điều trị, thầy thuốc cần xem xét kỹ bệnh sử, các bệnh kết hợp, và sở thích của BN khi xây dựng một kế hoạch điều trị toàn diện.

Không dễ dàng khi phải thừa nhận rằng bạn, hoặc một người nào đó bạn quan tâm, mắc nghiện. Làm thế nào để bạn biết bạn đã mất kiểm soát khi uống? Câu trả lời khác nhau, nhưng nói chung, nếu uống rượu hoặc sử dụng ma túy gây trở ngại cho gia đình và đời sống xã hội, công việc, sức khỏe, ổn định tinh thần và/hoặc đời sống tâm linh – thì đó là một vấn đề cần nghiêm túc giải quyết./.

28 năm kinh nghiệm ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CHẤT

Trực tiếp tư vấn và điều trị nghiện rượu, nghiện heroin, các rối loạn tâm thần do sử dụng cần sa, ketamin, (nghiện đá, ngáo đá), thuốc lắc

Tiến sĩ, Bác sĩ Trần thị Hồng Thu 0988 079 038 – 0916316 028